Ngày 09/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 35/2026/QĐ-UBND về Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Thành phố Hồ Chí Minh. Trên nền tảng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và các nghị định mới của Chính phủ, Quy chế xác lập khung pháp lý thống nhất cho công tác đào tạo, bồi dưỡng trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công của Thành phố sau hợp nhất.
Ngày 09/6/2026, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 35/2026/QĐ-UBND về Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Thành phố Hồ Chí Minh. Trên nền tảng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và các nghị định mới của Chính phủ, Quy chế xác lập khung pháp lý thống nhất cho công tác đào tạo, bồi dưỡng trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công của Thành phố sau hợp nhất.
Khung pháp lý mới và phạm vi điều chỉnh
Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 35/2026/QĐ-UBND có hiệu lực từ ngày 22/6/2026, thay thế Quyết định số 25/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương và Quyết định số 03/2024/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trước đây). Việc thay thế đồng thời hai văn bản của các địa phương trước sáp nhập phản ánh yêu cầu thống nhất quy định trên địa bàn Thành phố sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, tạo khung pháp lý chung cho toàn hệ thống cơ quan, đơn vị.
Quy chế được xây dựng căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 và các Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, Nghị định số 170/2025/NĐ-CP, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Về phạm vi, Quy chế điều chỉnh nội dung, hình thức, tổ chức quản lý, trình tự, chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và nước ngoài; việc phân cấp phê duyệt, ban hành, quản lý chương trình bồi dưỡng và trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
Đối tượng áp dụng và nguyên tắc thực hiện
Đối tượng áp dụng gồm: công chức trong các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu; cán bộ trong cơ quan nhà nước; và các đối tượng khác theo yêu cầu của Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quy chế xác lập tám nguyên tắc cốt lõi. Công tác đào tạo, bồi dưỡng do Ủy ban nhân dân Thành phố thống nhất quản lý, chỉ đạo, đồng thời phân công, phân cấp cho các cơ quan, đơn vị, địa phương; phải căn cứ vị trí việc làm, gắn với bố trí, quy hoạch cán bộ và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Quy chế đề cao ý thức tự học, khuyến khích đào tạo ở nước ngoài tại các cơ sở uy tín; tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ và trí tuệ nhân tạo; bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và không cử cán bộ, công chức tham gia các khóa học trùng lịch.
Quản lý chương trình, tổ chức và thẩm định đề án
Ủy ban nhân dân Thành phố phân cấp cho các cơ quan chuyên môn biên soạn, phê duyệt chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách; phân cấp cho Sở Nội vụ quản lý các chương trình còn lại. Với lớp bồi dưỡng chuyên đề ngắn hạn dưới một tuần, cơ quan chuyên môn được chủ động xây dựng chương trình và chịu trách nhiệm về việc biên soạn, phê duyệt. Cơ quan được phân cấp không được phân cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn đã được giao.
Sở Nội vụ chủ trì giúp Ủy ban nhân dân Thành phố thẩm định các đề án đào tạo, bồi dưỡng. Hội đồng thẩm định có 05 hoặc 07 thành viên, gồm Chủ tịch, Thư ký, hai Ủy viên kiêm phản biện và các Ủy viên khác, không gồm người trực tiếp biên soạn đề án. Cuộc họp tiến hành khi có mặt của ít nhất hai phần ba thành viên, trong đó Chủ tịch và Thư ký không vắng mặt; trong 10 ngày làm việc sau cuộc họp, Sở Nội vụ gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, quyết định.
Điều kiện, tiêu chuẩn và trình tự cử đi đào tạo, bồi dưỡng
Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước và yêu cầu của cơ sở đào tạo. Khi số người đủ điều kiện vượt chỉ tiêu, việc xét chọn theo thứ tự ưu tiên: lĩnh vực được ưu tiên đào tạo; chức vụ; người được quy hoạch lãnh đạo; thời gian giữ ngạch; cán bộ, công chức là nữ; là người dân tộc thiểu số; và người dự tuyển lần đầu hoặc chưa từng được cử đi học. Người được cử dự tuyển nhưng không dự thi, hoặc trúng tuyển nhưng không đi học mà không có lý do chính đáng, sẽ không được cử đi dự tuyển tối thiểu 01 năm.
Quy chế quy định cụ thể trình tự, thủ tục và hồ sơ cho từng trường hợp cử đi học trong nước, nước ngoài. Về quản lý sau đào tạo, người học trong nước báo cáo kết quả bằng văn bản trong 07 ngày làm việc; người học ở nước ngoài phải về nước và báo cáo trong 15 ngày làm việc, đồng thời nộp văn bằng đã được công nhận trong 30 ngày. Kinh phí được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, kinh phí của cơ quan sử dụng công chức, đóng góp của công chức và các nguồn tài trợ hợp pháp.
Quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức được cử đi học được bố trí thời gian, kinh phí theo quy định; thời gian học tập được tính vào thời gian công tác liên tục; được biểu dương, khen thưởng nếu đạt kết quả xuất sắc. Đi cùng quyền lợi là trách nhiệm tuân thủ quy định, nguyên tắc; không đăng ký học trùng lịch; tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi trong thời gian đi học; thực hiện đền bù chi phí đào tạo. Với khóa học từ 01 năm trở lên, định kỳ 06 tháng phải gửi báo cáo tiến độ, kết quả học tập về đơn vị.
Quy chế cũng quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý tham gia giảng dạy: bố trí thời gian hợp lý, nghiên cứu kỹ chương trình để xây dựng bài giảng thiết thực, lồng ghép kinh nghiệm và tình huống điều hành thực tiễn, tập trung giải đáp vướng mắc của học viên. Việc tham gia giảng dạy là một cơ sở đánh giá, xếp loại hàng năm đối với đội ngũ lãnh đạo, quản lý.
Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và tổ chức thực hiện
Các cơ quan, đơn vị, địa phương có trách nhiệm xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; chọn, cử cán bộ, công chức đi học đúng đối tượng, đúng quy hoạch; quản lý, thanh quyết toán kinh phí; theo dõi, đánh giá kết quả và bố trí công việc phù hợp sau đào tạo. Quy chế đặt ra yêu cầu định lượng quan trọng là bảo đảm thời gian thực hiện tối thiểu 01 tuần, tương đương 40 tiết mỗi năm, đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số liệu đào tạo, bồi dưỡng.
Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu, chủ trì xây dựng văn bản, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trình Ủy ban nhân dân Thành phố; tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp và báo cáo kết quả cho Ủy ban nhân dân Thành phố và Bộ Nội vụ. Sở Tài chính tham mưu bố trí nguồn kinh phí trong dự toán ngân sách hàng năm. Các cơ quan, đơn vị gửi báo cáo và dự kiến kế hoạch về Sở Nội vụ trước ngày 30/6 và ngày 30/11 hàng năm để tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân Thành phố.
Quyết định số 35/2026/QĐ-UBND không chỉ thống nhất quy định pháp lý trên địa bàn mà còn thể hiện rõ định hướng chuyển trọng tâm sang yêu cầu vị trí việc làm, gắn với tự chủ, phân cấp và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo. Triển khai đồng bộ, thực chất, Quy chế sẽ là tiền đề quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu phát triển của Thành phố trong giai đoạn mới./.
Tác giả: Ngọc Duy Trần
Nguồn tin: sonoivu.hochiminhcity.gov.vn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập