Chào mừng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

Thứ sáu - 03/04/2026 07:22
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của Việt Nam. Bài viết tập trung trình bày cơ sở khoa học về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và từ đó đưa ra giải pháp về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam.

https://a.tcnnld.vn/Content/Upload/NewsItems/Thumb/20260402025548-cdn%20tphcm.jpg?t=1762423302

1. MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách và có ý nghĩa chiến lược đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa (CNH, HĐH) đòi hỏi lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng công nghệ số, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường lao động toàn cầu. Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP cũng đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực để đảm bảo Việt Nam không chỉ tham gia mà còn có thể cạnh tranh hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ góc độ đó, phát triển NNLCLC không chỉ đơn thuần là một giải pháp kinh tế - xã hội, mà còn là động lực then chốt quyết định thành công. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Singapore hay Trung Quốc đã chứng minh, việc đầu tư vào con người, đặc biệt là đào tạo và phát triển NNLCLC, chính là yếu tố nền tảng để tạo nên bước nhảy vọt về năng suất lao động, trình độ công nghệ và vị thế quốc tế.

Đối với Việt Nam, sau hơn ba thập niên đổi mới, mặc dù đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn là điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Theo Cục Thống kê Việt Nam (2025), tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chỉ đạt khoảng 28,1%, trong khi phần lớn lao động vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức, thiếu kỹ năng và không đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghệ cao. Đây là thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội để Việt Nam chuyển mình nếu có chiến lược phát triển nhân lực đúng đắn, toàn diện và bền vững.

2CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Vấn đề phát triển NNLCLC đã được các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế quan tâm từ nhiều góc độ. Ở cấp độ vĩ mô, các nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế (World Bank, 2019), hoặc phân tích chính sách phát triển nhân lực của các quốc gia điển hình như Hàn Quốc, Singapore (Đỗ Thị Tâm, 2024; Lê Hồng Dương, 2025). Ở cấp độ ngành/doanh nghiệp, nhiều công trình đi sâu vào đánh giá nhu cầu kỹ năng trong các ngành công nghệ cao (VCCI, 2022), hay các mô hình hợp tác doanh nghiệp - nhà trường (Hoàng Đại Thắng, 2026). Ở cấp độ thể chế, các nghiên cứu gần đây tập trung vào thể chế phát triển NNLCLC, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và CMCN 4.0, nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ chính sách (Lê Văn Hùng, 2026; Nguyễn Thị Mai, 2024).

Những nghiên cứu này được kế thừa và phát triển dựa trên ba trụ cột lý thuyết chính, mỗi trụ cột cung cấp một phân tích quan trọng. Lý thuyết Vốn con người (Schultz, 1961; Becker, 1964) cung cấp nền tảng kinh tế học, coi giáo dục-đào tạo là đầu tư sinh lời cho tăng trưởng. Nhấn mạnh lợi ích cá nhân và xã hội. Trong khi đó, lý thuyết Hệ thống & Mô hình Tam giác vàng (Etzkowitz & Leydesdorff, 1995) Cung cấp khung phân tích tương tác đa chủ thể (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp). Tiếp cận Phát triển con người (Sen, 1999) và Học tập suốt đời (UNESCO) mở rộng khái niệm "chất lượng" sang tự do, năng lực, cơ hội; nhấn mạnh phát triển toàn diện và học tập liên tục.

Các nghiên cứu trong nước đã cung cấp cơ sở quan trọng về thực trạng và các vấn đề đặt ra. Nghiên cứu của Cục Thống kê (2025) và ILO (2023) chỉ rõ khoảng cách về tỷ lệ lao động qua đào tạo và năng suất lao động so với các nước trong khu vực. Khảo sát của VCCI (2022) phản ánh khoảng cách kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng mềm và số, giữa sinh viên tốt nghiệp và nhu cầu doanh nghiệp. Các phân tích của Nguyễn Thị Thu Hà (2022) và Lê Văn Hùng (2026) chỉ ra các bất cập trong cơ chế phối hợp liên ngành, chính sách đãi ngộ và môi trường nghiên cứu, dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám".

Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và thực nghiệm, nghiên cứu này xác định các khoảng trống cần thiết. Phần lớn nghiên cứu trước đây tập trung vào từng khía cạnh riêng lẻ (giáo dục, thị trường lao động, khoa học công nghệ). Nghiên cứu này phân tích một cách hệ thống sự tương tác và điểm nghẽn thể chế giữa ba lĩnh vực then chốt này trong việc hình thành và phát huy NNLCLC. Chưa có nhiều nghiên cứu gắn kết một cách chặt chẽ yêu cầu phát triển NNLCLC với hai quá trình chuyển đổi mang tính thời đại: chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi xanh. Nghiên cứu này đặt vấn đề phát triển NNLCLC như một trụ cột then chốt để hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi kép này. Các đề xuất chính sách thường mang tính chung chung. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của các giải pháp phân hóa và đặc thù, đặc biệt trong việc thu hút, phát huy thế hệ lao động trẻ (Gen Z, Millennials) – lực lượng chủ chốt của NNLCLC tương lai – với các giá trị và động lực khác biệt (môi trường làm việc linh hoạt, mục đích công việc, văn hóa sáng tạo).

Như vậy, nghiên cứu này được đặt trên nền tảng lý thuyết vững chắc về vốn con người, hệ thống và phát triển, đồng thời kế thừa các nghiên cứu từ các học giả trong nước. Trên cơ sở phân tích thể chế tích hợp, gắn kết với chuyển đổi kép và đề xuất giải pháp phân hóa, nghiên cứu kỳ vọng đóng góp một cách nhìn toàn diện, cập nhật và có tính khả thi cao hơn cho việc hoạch định chính sách phát triển NNLCLC tại Việt Nam trong giai đoạn tới.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời ba câu hỏi trọng tâm: (1) Hệ thống chính sách phát triển NNLCLC của Việt Nam đã được hoạch định và định hình như thế nào trong hai thập kỷ qua? (2) Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay được phản ánh qua các chỉ số định lượng và đánh giá định tính ra sao? (3) Những điểm nghẽn và thách thức chính nào đang tồn tại trong mối liên kết giữa giáo dục-đào tạo, thị trường lao động và nhu cầu phát triển công nghiệp? Để giải quyết các câu hỏi trên, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods) dựa trên phân tích tài liệu thứ cấp, với ba phương pháp cụ thể được triển khai một cách hệ thống.

Phương pháp phân tích chính sách. Phương pháp này được sử dụng để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu số (1). Nghiên cứu áp dụng phân tích nội dung định tính (qualitative content analysis) để hệ thống hóa và diễn giải các văn kiện, nghị quyết chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIII (2021), cùng các chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực ngành và quốc gia. 

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp. Phương pháp này chủ yếu giải quyết câu hỏi nghiên cứu số (2) và (3). Nghiên cứu tiến hành tổng quan có hệ thống (systematic review) các công trình nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế, báo cáo của các tổ chức quốc tế (WB, ILO, ADB) và các bài phân tích chuyên sâu. 

Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phân tích thống kê mô tả (descriptive statistical analysis) dựa trên các nguồn số liệu chính thức từ Tổng cục Thống kê và các cơ sở dữ liệu toàn cầu để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Cơ sở khoa học về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Khái niệm  

Nguồn nhân lực (NNL) nói chung được hiểu là toàn bộ sức lao động của con người trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội (McConnell, Brue, & Flynn, 2018). Tuy nhiên, không phải tất cả NNL đều có giá trị và vai trò như nhau trong bối cảnh phát triển. Trong thời kỳ CNH, HĐH, NNL CLC được sử dụng để chỉ bộ phận lao động có trình độ học vấn, kỹ năng, sức khỏe, thái độ và phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu.

Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2021), NNLCLC thường được đặc trưng bởi ba yếu tố chính: trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực đổi mới - sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường làm việc đa văn hóa, đa quốc gia.

Tại Việt Nam, Đại hội XI (năm 2011) Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: phát triển và nâng cao chất lượng NNL, nhất là NNLCLC là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.130).

Hoặc một số nhà nghiên cứu khác, Phạm Minh Hạc cho rằng NNLCLC là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi vào CNH, HĐH được mở rộng theo kiểu vết dầu loang bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh (Phạm Minh Hạc, 1996, tr.147-148). Hay, Nguyễn Hữu Dũng nhấn mạnh: NNLCLC là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề) (Nguyễn Hữu Dũng, 2002, 8, tr.20).

Như vậy, NNLCLC là bộ phận lao động hội tụ đầy đủ các yếu tố về trí lực, thể lực, tâm lực và kỹ năng, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.

Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực chất lượng cao

Thứ nhất, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao. NNLCLC được trang bị tri thức khoa học hiện đại, có khả năng làm chủ công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu công việc phức tạp. Thứ hai, khả năng đổi mới sáng tạo và tư duy phản biện. Trong nền kinh tế số và kinh tế tri thức, sáng tạo trở thành yếu tố cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia. Thứ ba, thể lực và sức khỏe. Một nguồn nhân lực khỏe mạnh không chỉ đảm bảo năng suất lao động mà còn là yếu tố bền vững của phát triển. Thứ tư, phẩm chất đạo đức, thái độ nghề nghiệp. Tính kỷ luật, trách nhiệm, tinh thần học hỏi, và đạo đức nghề nghiệp là những giá trị nền tảng của NNLCLC (Dessler, 2015). Thứ năm, khả năng thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa. Trong xu thế hội nhập, lực lượng lao động phải có năng lực giao tiếp quốc tế, am hiểu văn hóa đa dạng và thích ứng với thay đổi nhanh chóng của môi trường lao động toàn cầu.

Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển

Nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của Việt Nam, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Trước hết, là động lực tăng trưởng kinh tế. Theo Ngân hàng Thế giới (2020), chất lượng NNL chiếm tới 64% đóng góp vào tăng trưởng kinh tế dài hạn, cao hơn cả vốn vật chất và tài nguyên thiên nhiên. Thứ hai, là nhân tố quyết định năng suất lao động, Việt Nam hiện có năng suất lao động thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Điều này cho thấy phát triển NNLCLC chính là con đường tất yếu để nâng cao năng suất. Thứ ba, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lực lượng lao động có kỹ năng cao giúp nền kinh tế chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, tài chính, logistics, năng lượng tái tạo. Thứ tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2022) đánh giá Việt Nam xếp hạng 70/132 quốc gia về chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế tương lai, trong đó yếu tố nhân lực là điểm nghẽn lớn. Điều này càng nhấn mạnh vai trò của NNLCLC như một trụ cột để cải thiện vị thế Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.

Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược quan trọng, coi phát triển NNLCLC là ưu tiên hàng đầu. Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nhấn mạnh: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đến, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) tiếp tục khẳng định: Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển NNLCLC, thu hút và trọng dụng nhân tài… Phát triển con người toàn diện, xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước (Báo Chính phủ, 2021).

4.2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay

Trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển NNL, đặc biệt là NNLCLC. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thực trạng NNLCLC của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có những giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ và bền vững hơn.

Trước hết, Việt Nam là quốc gia có lực lượng lao động dồi dào. Tính đến năm 2023, cả nước có khoảng 52,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên, trong đó lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế đạt gần 51 triệu người (Cục Thống kê Việt Nam, 2025). Đây là một lợi thế quan trọng trong giai đoạn dân số vàng. Tuy nhiên, chất lượng NNL chưa thực sự tương xứng. Lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chỉ chiếm 28,1%, trong khi ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, tỷ lệ người từ 25-34 tuổi có trình độ đại học hoặc cao hơn đạt 66%, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (25-64) có trình độ đại học trở lên ở Nhật là khoảng 57% (OECD, 2025); Hàn Quốc, tỷ lệ người (25-64 tuổi) có trình độ đại học hoặc hơn là khoảng 53%. Điều này cho thấy khoảng cách khá lớn giữa quy mô lực lượng lao động và chất lượng đào tạo, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bảng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ (2015-2025) (%)

https://a.tcnnld.vn/Content/Upload/NewsItems/Thumb/20260402035117-bang%20nnl.jpg?t=1762423302

Nguồn: Tổng cục thống kê; Cục thống kê- Bộ Tài Chính, 2015-2025

Về cơ cấu và chất lượng nhân lực, xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ mức trên 65% năm 1990 xuống còn 26% năm 2024; trong khi đó, lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng tương ứng, phản ánh sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa (Cục Thống kê Việt Nam, 2025). Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng lao động trong công nghiệp và dịch vụ chưa đi đôi với sự gia tăng về chất lượng. Lực lượng lao động chất lượng cao vẫn tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong khi ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, NNLCLC còn rất thiếu hụt. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động có khả năng làm việc trong các ngành công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế số và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Năm 2023, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt 0,766, xếp hạng 93 trên thế giới. So với một số quốc gia trong khu vực và châu Á, chỉ số này vẫn ở mức thấp: Singapore đạt 0,946 (hạng 13), Malaysia đạt 0,819 (hạng 67), Thái Lan đạt 0,798 (hạng 76), trong khi Hàn Quốc đạt 0,937 (hạng 20) (Cục Thống kê Việt Nam, 2025, tr.1232). Điều này cho thấy, mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ về giáo dục, y tế và thu nhập, nhưng so với các nước có nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực, trình độ phát triển con người vẫn còn hạn chế. HDI ở mức trung bình cao cho thấy NNL Việt Nam đã có sự cải thiện nhưng chưa thực sự đạt chuẩn chất lượng cao, nhất là về năng suất lao động, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng cạnh tranh quốc tế.

Trong lĩnh vực đào tạo và bồi dưỡng, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể. Hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp không ngừng mở rộng, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã có tên trong các bảng xếp hạng quốc tế. Chẳng hạn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhiều năm liền có mặt trong nhóm 1000 trường đại học hàng đầu thế giới theo QS Rankings (QS, 2023). Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ gia tăng số lượng sinh viên nhanh nhất trong khu vực (UNESCO, 2022). Tuy nhiên, chất lượng đào tạo chưa đồng bộ, nhiều chương trình còn nặng về lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Một số khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2022) cho thấy, hơn 40% doanh nghiệp gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động đáp ứng yêu cầu kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng mềm, khả năng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ số. Đây chính là rào cản lớn khiến NNLCLC ở Việt Nam chưa thật sự thích ứng linh hoạt với thị trường lao động quốc tế.

Một vấn đề khác là việc sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, song hiệu quả còn hạn chế. Hiện tượng “chảy máu chất xám” vẫn diễn ra, đặc biệt ở nhóm nhân lực trẻ được đào tạo ở nước ngoài. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), mỗi năm có hàng chục nghìn sinh viên Việt Nam đi du học, nhưng tỷ lệ quay trở về làm việc trong nước chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chính sách đãi ngộ chưa đủ cạnh tranh, môi trường nghiên cứu sáng tạo chưa thuận lợi, cùng với đó là những rào cản về thủ tục hành chính và cơ hội thăng tiến. Ở nhiều ngành nghề, lương và phúc lợi cho lao động chất lượng cao tại Việt Nam thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực, khiến việc giữ chân nhân lực giỏi gặp nhiều khó khăn.

Những hạn chế của NNLCLC ở Việt Nam có nguyên nhân. Hệ thống giáo dục và đào tạo còn chậm đổi mới, thiếu sự liên kết giữa Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp. Các chương trình đào tạo chưa theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học - công nghệ và thị trường lao động. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa đồng bộ với phát triển nhân lực, năng suất lao động còn thấp. Tính theo sức mua tương đương (PPP), năng suất lao động năm 2022 của Việt Nam đạt khoảng 20.400 USD, chỉ bằng 11,8% Singapore, 23,1% Hàn Quốc và 42,6% Malaysia (ILO, 2023). Một trong những nguyên nhân sâu xa là mức đầu tư cho khoa học - công nghệ và R&D của Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, trong khi mức trung bình của thế giới là 2,2% GDP (World Bank, 2022). Điều này khiến cho môi trường nghiên cứu và phát triển chưa thật sự hấp dẫn để nuôi dưỡng và phát huy tài năng.

4.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam

Để phát triển NNLCLC một cách bền vững và phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, cần triển khai một gói giải pháp toàn diện, đồng bộ và mang tính chiến lược như hoàn thiện thể chế chính sách, đổi mới giáo dục-đào tạo, liên kết “nhà nước - nhà trường -doanh nghiệp”, đầu tư cho khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường lao động thông minh cùng chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài.

Trước hết, phải xây dựng và thực thi một khung chiến lược quốc gia rõ ràng về NNLCLC với mục tiêu định lượng, lộ trình và chỉ số đánh giá cụ thể; khung này cần gắn chặt với chiến lược công nghiệp quốc gia, kế hoạch chuyển đổi số và chiến lược đổi mới sáng tạo, đồng thời phân bổ nguồn lực tài chính ổn định cho mục tiêu đào tạo và R&D. Việc này bao gồm thiết lập tiêu chuẩn nghề theo ngành, xác định “ngành mũi nhọn” ưu tiên (bán dẫn, AI, năng lượng tái tạo, cơ khí chính xác, y tế chuyên sâu, logistics) và cơ chế tài trợ có điều kiện cho các chương trình đào tạo hướng tới những ngành này.

Thứ hai, cần đổi mới căn bản chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo ở mọi cấp độ, từ phổ thông đến đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chương trình phải tăng tỷ lệ thực hành, ứng dụng phương pháp dạy theo dự án (project-based learning), đào tạo kép (dual training) và cơ chế chứng chỉ mô-đun nhằm tạo lộ trình upskilling/reskilling linh hoạt cho người lao động; đồng thời tích hợp bắt buộc kỹ năng số, tư duy phản biện, kỹ năng mềm và ngoại ngữ trong khung chuẩn đầu ra. Việc nâng cao năng lực giảng dạy cũng là then chốt, đầu tư phát triển năng lực giảng viên thông qua đào tạo lại (re-training), trao đổi học thuật quốc tế và hợp tác nghiên cứu, cùng trang bị cơ sở vật chất phòng thí nghiệm, xưởng thực hành đạt chuẩn quốc tế.

Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái liên kết chặt giữa nhà nước, trường học, doanh nghiệp và viện nghiên cứu để đảm bảo tính “cầu-cung” của thị trường lao động. Nhà nước cần thiết kế cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo (ưu đãi thuế, quỹ liên kết đào tạo), đồng thời thúc đẩy các mô hình hợp tác như trường-doanh nghiệp cùng xây dựng chương trình, doanh nghiệp làm đối tác thực tập và viện nghiên cứu thương mại hóa công nghệ thông qua spin-off, hợp tác ươm tạo.

 Thứ tư, tăng cường đầu tư cho khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng tỷ lệ chi cho R&D tiến từng bước lên mức phù hợp với mục tiêu kinh tế sáng tạo; thiết lập các trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực, quỹ đầu tư mạo hiểm cho công nghệ, cùng cơ chế đánh giá hiệu quả R&D minh bạch để chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất.

Thứ năm, phát triển thị trường lao động thông minh, minh bạch và hỗ trợ học tập suốt đời: xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia về kỹ năng và nhu cầu lao động, triển khai hệ thống matching trực tuyến giữa người học và doanh nghiệp, áp dụng mô hình tín chỉ học tập có trợ cấp (learning credits) để khuyến khích người lao động tham gia chương trình nâng cao năng lực; đồng thời thúc đẩy công nhận lẫn nhau về kỹ năng trong khu vực ASEAN để mở rộng cơ hội di chuyển lao động có kỹ năng.

Thứ sáu, thiết kế chính sách đãi ngộ, thu hút và giữ chân nhân tài với cơ chế lương-thưởng cạnh tranh, chế độ ưu đãi cho chuyên gia, con đường thăng tiến rõ ràng cho nhà nghiên cứu và giảng viên, cùng cơ chế tạo thuận lợi cho kiều bào và chuyên gia nước ngoài tham gia phát triển trong nước. Cùng với đó, cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình tuyển dụng và cấp phép cho chuyên gia nhằm giảm rào cản gia nhập.

Thứ bảy, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, các giải pháp cần triển khai thí điểm tại một số địa phương, ngành nghề trọng điểm, kèm theo hệ thống giám sát-đánh giá định kỳ dựa trên KPI rõ ràng; việc đánh giá này phải bao gồm cả chỉ số đầu ra (tỷ lệ có việc làm, thu nhập, năng suất) và chỉ số đầu vào (nguồn lực, tỷ lệ đầu tư R&D, số giờ đào tạo trung bình). Sự tham gia có trách nhiệm của doanh nghiệp, cam kết nguồn lực từ địa phương và sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế sẽ tăng tính bền vững cho các chương trình, giúp Việt Nam biến lợi thế dân số trẻ thành nguồn lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

5. KẾT LUẬN

Phát triển NNLCLC là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, nhân lực chất lượng cao không chỉ là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo mà còn là nền tảng để Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua đã tạo chuyển biến đáng kể, song vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết đồng bộ, từ giáo dục - đào tạo, cơ chế sử dụng, chính sách đãi ngộ đến môi trường làm việc và nghiên cứu. Hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam cần coi đầu tư cho con người là đầu tư cho tương lai, từ đó xây dựng một lực lượng lao động chất lượng cao, thực sự là động lực cho phát triển đất nước.

 

Tác giả: Ngọc Duy Trần

Nguồn tin: tcnnld.vn

Thống kê truy cập

Hôm nay

3,960

Tổng lượt truy cập

4,497,842
Hình 1
App
Chuyển đổi số
Ngày quốc gia
Chủ động
Video sp
Bộ công thương
FTA
mail
đảng bộ
cải cách
Tổng đài
Trung tâm xúc tiến
Công đoàn
Hỏi đáp
Đồng nai
Hiệp định
Fake new
Bộ pháp
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây