Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng gồm 13 Chương, 71 Điều với 5 nhóm chính sách, bao gồm: Hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân quyền, giao quyền trong thẩm định, phê duyệt các bước triển khai điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí; bổ sung, hoàn thiện các quy định về hợp đồng dầu khí và hoạt động dầu khí. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách quy định về ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí; quy định cơ chế, chính sách phát triển chuỗi giá trị dầu khí gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; quy định khung cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon trong hoạt động dầu khí.
Luật Dầu khí (sửa đổi) áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí và phát triển chuỗi giá trị dầu khí, bao gồm dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.
Theo dự thảo tờ trình của Bộ Công Thương, việc xây dựng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) phải đáp ứng yêu cầu đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, nhất là về năng lượng. Cũng như bảo vệ, khai thác hiệu quả tài nguyên, chủ quyền quốc gia bao gồm cả chủ quyền pháp lý, xây dựng thể chế hội nhập, khẳng định vị thế của Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; tăng cường năng lực quản lý nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, giao quyền tránh lợi ích cục bộ của các bộ, ngành.
Theo đó, mục đích ban hành Luật Dầu khí (sửa đổi) nhằm nâng cao tính thực tiễn, khả thi của Luật Dầu khí, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống luật pháp trong điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, phù hợp với các cam kết quốc tế và thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế.
Bảo đảm điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí được an toàn cho con người và tài sản, nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, đem lại hiệu quả, quyền lợi của quốc gia cũng như các nhà đầu tư trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam. Điều tra cơ bản về dầu khí phải đi trước một bước, làm cơ sở để định hướng và triển khai hoạt động dầu khí.
Cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, hạn chế tối đa những khó khăn, vướng mắc, sự không rõ ràng, chồng chéo, bất cập của hệ thống pháp luật.
Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tư nhân trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong bối cảnh hoạt động dầu khí ngày càng khó khăn, phức tạp, nhất là những khu vực nước sâu, xa bờ, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh trên Biển Đông.
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong ngành dầu khí với mũi nhọn là dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao tự chủ, phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài. Đồng thời, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, đồng thời góp phần duy trì môi trường hòa bình và ổn định trên biển để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Việt Nam có khoảng 8 bể trầm tích dầu khí, trong đó các bể như Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu đã và đang khai thác hiệu quả. Tuy nhiên, phần lớn các phát hiện lớn, gần bờ đã được khai thác, các mỏ còn lại chủ yếu nằm ở tầng sâu hơn, quy mô nhỏ hơn, có điều kiện địa chất phức tạp. Theo ước tính, trữ lượng dầu khí (đã được thăm dò, thẩm lượng, xác định trữ lượng) của nước ta còn khoảng 1,5 tỷ thùng dầu quy đổi, song chi phí đầu tư, khai thác cao và rủi ro lớn.
Luật Dầu khí năm 2022 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm giải quyết điểm nghẽn của ngành. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, khi cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, năng lượng, đặc biệt là dầu khí và các sản phẩm hóa dầu đang dần bị “vũ khí hóa”, trở thành công cụ chiến lược để định hình cấu trúc, vị thế trong mối quan hệ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, Luật Dầu khí 2022 đang bộc lộ nhiều hạn chế.
Đáng chú ý, tiềm năng năng lượng của Việt Nam không chỉ nằm ở dầu khí truyền thống. Không gian đáy biển còn mở ra nhiều hướng phát triển mới nếu có khung pháp lý phù hợp, nhất là các dạng năng lượng đáy biển khác.
Trước hết là khí tự nhiên, với các dự án lớn như Lô B - Ô Môn, Cá Voi Xanh… Đây là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng, có vai trò then chốt trong bảo đảm cung ứng điện và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải.
Xa hơn, hydrat khí (băng cháy), dạng methane tồn tại trong cấu trúc băng dưới đáy biển được đánh giá có tiềm năng lớn tại các vùng biển sâu. Dù công nghệ khai thác còn đang hoàn thiện, nhưng đây có thể là nguồn năng lượng chiến lược trong dài hạn nếu được nghiên cứu, thăm dò bài bản.
Bên cạnh đó, điện gió ngoài khơi là một lợi thế nổi bật. Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km và điều kiện gió thuận lợi, tiềm năng kỹ thuật có thể lên tới hàng trăm GW. Đáng nói, lĩnh vực này có thể tận dụng hạ tầng, kinh nghiệm và chuỗi cung ứng của ngành dầu khí.
Ngoài ra, các dạng năng lượng như sóng, thủy triều hay tài nguyên khoáng sản đáy biển cũng là những hướng đi cần được nghiên cứu trong chiến lược dài hạn về kinh tế biển và năng lượng.
Những tiềm năng này đặt ra yêu cầu Luật Dầu khí (hoặc khung pháp lý liên quan) cần có cách tiếp cận mở, tích hợp, tạo điều kiện để tận dụng hiệu quả dữ liệu địa chất, hạ tầng và nguồn nhân lực sẵn có.
Tác giả: Trang Nguyễn Thị Xuân
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập