Đơn vị sự nghiệp công lập giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội, đồng thời hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong từng ngành, lĩnh vực. Cùng với yêu cầu đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động, việc xác định rõ vị trí, chức năng, mức độ tự chủ và năng lực hoạt động của từng đơn vị là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu quả.
Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo vị trí pháp lý, lĩnh vực hoạt động và mức độ tự chủ
Theo Điều 7 Nghị định số 299/2026/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) được phân loại theo các tiêu chí cụ thể, bao gồm: vị trí pháp lý; lĩnh vực cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; tính chất nhiệm vụ được giao và mức độ tự chủ tài chính. Về vị trí pháp lý của ĐVSNCL theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này. Đây là tiêu chí quan trọng nhằm xác định rõ vị trí, vai trò của từng đơn vị trong hệ thống tổ chức ĐVSNCL. Bên cạnh vị trí pháp lý, ĐVSNCL còn được phân loại theo ngành, lĩnh vực cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Theo đó, các nhóm lĩnh vực bao gồm: giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác như nông nghiệp và môi trường, tài chính, xây dựng, công thương, nội vụ, tư pháp và các lĩnh vực khác; đồng thời bao gồm nhóm đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực.
Việc phân loại theo ngành, lĩnh vực giúp nhận diện rõ phạm vi hoạt động, tính chất chuyên môn của từng đơn vị, bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý của từng lĩnh vực. Mỗi nhóm dịch vụ sự nghiệp công có đặc điểm, yêu cầu chuyên môn khác nhau, do đó việc xác định đúng lĩnh vực hoạt động là cơ sở để xây dựng phương án phát triển mạng lưới các ĐVSNCL phù hợp. Một tiêu chí khác trong phân loại là tính chất nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm hai nhóm: dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội và dịch vụ sự nghiệp công hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Quy định này thể hiện sự phân định giữa các đơn vị thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ trực tiếp cho xã hội với các đơn vị có chức năng hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc xác định rõ tính chất nhiệm vụ giúp làm rõ vai trò, chức năng của từng đơn vị, tránh sự trùng lặp trong quá trình tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Ngoài các tiêu chí về tổ chức và chức năng, Điều 7 cũng quy định việc phân loại căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL. Đây là tiêu chí phản ánh mức độ chủ động của đơn vị trong hoạt động tài chính, gắn với khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ, sử dụng nguồn lực và bảo đảm hoạt động theo cơ chế được giao.
Để bảo đảm tính thống nhất và phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực, Nghị định giao Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, lĩnh vực hướng dẫn tiêu chí cụ thể phân loại ĐVSNCL cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo ngành, lĩnh vực phục vụ xây dựng phương án phát triển mạng lưới các ĐVSNCL theo ngành, lĩnh vực; đồng thời hướng dẫn tiêu chí cụ thể phân loại ĐVSNCL hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc xây dựng tiêu chí phân loại phải bảo đảm phù hợp với tính chất hoạt động của ĐVSNCL, tính chất dịch vụ sự nghiệp công do đơn vị cung cấp và yêu cầu đặc thù của từng ngành, lĩnh vực. Đối với các trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng về phân loại đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Xếp hạng ĐVSNCL dựa trên quy mô, năng lực và hiệu quả hoạt động
Nếu phân loại nhằm xác định đặc điểm, vị trí của đơn vị thì xếp hạng là công cụ đánh giá mức độ phát triển, năng lực hoạt động và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của ĐVSNCL. Theo Điều 8 Nghị định số 299/2026/NĐ-CP, việc xếp hạng ĐVSNCL được thực hiện dựa trên các nhóm tiêu chí cụ thể.
Nhóm tiêu chí về quy mô tổ chức, khối lượng công việc. Đây là căn cứ phản ánh phạm vi hoạt động, quy mô thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Một đơn vị có quy mô tổ chức phù hợp, khối lượng công việc lớn, yêu cầu chuyên môn cao sẽ cần được đánh giá tương xứng với năng lực và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ.
Nhóm tiêu chí về cơ cấu, trình độ lao động và độ phức tạp quản lý. Chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu đội ngũ và yêu cầu quản lý là những yếu tố quan trọng quyết định khả năng hoàn thành nhiệm vụ của ĐVSNCL. Việc đưa tiêu chí này vào xếp hạng nhằm đánh giá toàn diện hơn năng lực tổ chức, quản trị và trình độ chuyên môn của đội ngũ làm việc trong đơn vị.
Nhóm tiêu chí về hạ tầng cơ sở vật chất, mức độ hiện đại hóa và mức độ số hóa. Theo đó, việc xếp hạng căn cứ vào các yếu tố như tài sản, trang thiết bị, phương tiện làm việc; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hạ tầng dữ liệu. Quy định này cho thấy yêu cầu đánh giá ĐVSNCL không chỉ dựa trên quy mô tổ chức truyền thống mà còn gắn với mức độ hiện đại hóa, khả năng ứng dụng công nghệ trong quản lý và cung cấp dịch vụ công.
Nhóm tiêu chí quan trọng về hiệu quả hoạt động. Theo đó, việc xếp hạng phải căn cứ vào đánh giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; đánh giá định kỳ mức độ hài lòng của người dân; ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ sự nghiệp công; đồng thời xem xét hiệu quả quản lý tài chính và mức độ tự chủ tài chính của đơn vị. Đây là nhóm tiêu chí thể hiện sự chuyển hướng trong đánh giá hoạt động của ĐVSNCL, từ việc chú trọng các yếu tố đầu vào sang quan tâm nhiều hơn đến kết quả đầu ra, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ.
Ngoài các nhóm tiêu chí chung, việc xếp hạng còn căn cứ vào các nhóm tiêu chí khác theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực nếu có, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với sự khác biệt giữa các lĩnh vực cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
Về thời hạn xếp hạng, Điều 8 quy định thời hạn xếp hạng ĐVSNCL là 05 năm kể từ ngày có quyết định xếp hạng của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, nếu ĐVSNCL đạt tiêu chí xếp hạng cao hơn thì có thể được rút ngắn thời gian giữ hạng để xếp lại vào hạng cao hơn liền kề theo quy định của pháp luật. Quy định này vừa bảo đảm tính ổn định trong xếp hạng, vừa tạo động lực để các đơn vị nâng cao chất lượng hoạt động, phát triển năng lực và đáp ứng các tiêu chí ở mức cao hơn.
Nghị định cũng giao Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành tiêu chí cụ thể và hướng dẫn thực hiện xếp hạng ĐVSNCL thuộc ngành, lĩnh vực quản lý. Việc xây dựng tiêu chí phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm, tính chất của vùng, miền; đặc thù của ngành, lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công; chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và các yêu cầu quản lý chuyên ngành.
Có thể thấy, Nghị định số 299/2026/NĐ-CP đã quy định những nội dung quan trọng trong quản lý ĐVSNCL. Trong đó, phân loại tập trung xác định đơn vị thuộc nhóm nào trên cơ sở vị trí pháp lý, ngành, lĩnh vực hoạt động, tính chất nhiệm vụ và mức độ tự chủ tài chính. Trong khi đó, xếp hạng tập trung đánh giá quy mô, năng lực tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ hiện đại hóa, hiệu quả hoạt động và khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.
Sự kết hợp giữa phân loại và xếp hạng tạo cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn về vị trí và năng lực của từng ĐVSNCL. Đây cũng là căn cứ quan trọng để xây dựng phương án phát triển mạng lưới ĐVSNCL theo từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý và nhu cầu cung cấp dịch vụ công. Thông qua việc quy định rõ tiêu chí, trách nhiệm hướng dẫn của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực, góp phần hoàn thiện công cụ quản lý, hướng tới xây dựng hệ thống ĐVSNCL hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới./.
Tác giả: Trần Ngọc Duy
Nguồn tin: tcnnld.vn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập