Việc xây dựng đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước trong giai đoạn mới đòi hỏi không chỉ đổi mới phương thức tuyển dụng, mà cần mở rộng các kênh thu hút nguồn nhân lực có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn và khả năng đáp ứng ngay yêu cầu công việc. Trên tinh thần đó, Nghị định số 300/2026/NĐ-CP ngày 29/7/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã sửa đổi, bổ sung Điều 13, quy định cụ thể hơn về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện và hồ sơ tiếp nhận vào công chức.
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế tiếp nhận vào làm công chức theo hướng mở rộng nguồn tuyển nhưng siết chặt tiêu chuẩn.
Mở rộng các nhóm đối tượng được xem xét tiếp nhận
Theo quy định mới, căn cứ nhu cầu sử dụng nhân lực đáp ứng ngay yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xem xét, tiếp nhận vào làm công chức đối với nhiều nhóm đối tượng.
Nhóm đầu tiên là chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài khu vực công lập theo chính sách thu hút đối với người có tài năng. Đây là nhóm nhân lực có tiềm năng bổ sung những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn cần thiết cho khu vực công, nhất là trong các lĩnh vực chuyên môn sâu, quản trị, pháp luật, khoa học - công nghệ và phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, Nghị định quy định các nhóm đối tượng gồm viên chức; người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu mà không phải là công chức; người đang giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
Quy định cũng mở rộng đối tượng sang những người đã từng là cán bộ, công chức, sau đó được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà không phải là cán bộ, công chức; người được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao làm việc trong các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; đội viên Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013-2020, sau khi kết thúc Đề án tiếp tục ký hợp đồng lao động làm việc tại xã.
Như vậy, quy định này thay vì nhìn nhận nguồn nhân lực công chức từ một kênh tuyển dụng, quy định mới tạo thêm cơ chế để cơ quan nhà nước lựa chọn những người đã có quá trình công tác, kinh nghiệm thực tiễn và năng lực chuyên môn phù hợp với nhu cầu vị trí việc làm.
Đặt vị trí việc làm và yêu cầu thực tiễn làm căn cứ tiếp nhận
Một điểm đáng chú ý tại Điều 13 được sửa đổi là việc tiếp nhận không được thực hiện một cách đơn thuần theo hồ sơ hay bằng cấp, mà phải căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo từng vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chỉ tiêu biên chế được giao và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển. Trên cơ sở đó, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định tiếp nhận nếu người được xem xét đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Người được tiếp nhận trước hết phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức theo khoản 1 Điều 19 Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15. Đồng thời, không thuộc các trường hợp không được đăng ký dự tuyển theo khoản 3 Điều 19 của Luật này; không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, thời gian thi hành quyết định kỷ luật hoặc thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật của Đảng và pháp luật.
Đối với nhóm chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc, yêu cầu được đặt ra ở mức cụ thể hơn. Người được tiếp nhận phải có kết quả, sản phẩm, công trình, sáng kiến hoặc giải pháp khoa học được ứng dụng thực tế, đem lại hiệu quả rõ rệt, phù hợp và đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận; đồng thời là người có uy tín được cộng đồng khoa học hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành công nhận. Quy định này cho thấy trọng tâm không nằm ở bằng cấp, mà ở khả năng chứng minh giá trị thực tế của năng lực chuyên môn. Đây là cơ sở quan trọng để người được tiếp nhận thực sự có khả năng tạo ra giá trị cho cơ quan, tổ chức.
Kinh nghiệm công tác phải gắn với vị trí việc làm
Đối với viên chức và các nhóm đối tượng quy định tại các điểm b, c, d, e và g khoản 1 Điều 13, Nghị định đặt ra yêu cầu có ít nhất 05 năm công tác làm công việc có yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận. Thời gian công tác phải là thời gian liên tục trước khi được tiếp nhận, làm công việc ở trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp; không tính thời gian tập sự, thử việc nếu có; có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được xếp lương tương ứng với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận. Riêng trường hợp người đang giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước và đội viên Đề án trí thức trẻ, không bắt buộc phải đáp ứng điều kiện xếp lương tương ứng. Đáng chú ý, thời gian công tác có thể được cộng dồn nếu người được xem xét đã làm việc ở các vị trí thuộc những nhóm đối tượng nêu trên hoặc ở vị trí việc làm cán bộ, công chức cấp xã theo quy định trước đây, với điều kiện bảo đảm các yêu cầu về công việc và trình độ chuyên môn.
Nghị định cũng làm rõ yêu cầu công việc có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp. Theo đó, công việc phải gắn với chuyên ngành đào tạo, có yêu cầu sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn phù hợp với bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận. Cách quy định này góp phần tăng tính thực chất trong đánh giá kinh nghiệm, tránh việc chỉ cộng thời gian công tác nhưng thiếu sự tương đồng về chuyên môn.
Đẩy mạnh số hóa hồ sơ tiếp nhận
Không chỉ đổi mới về đối tượng và điều kiện, Nghị định số 300/2026/NĐ-CP còn tạo thuận lợi cho quá trình tiếp nhận thông qua quy định về hồ sơ điện tử. Hồ sơ của người được đề nghị tiếp nhận gồm sơ yếu lý lịch cá nhân; bản sao văn bằng, chứng chỉ và các giấy tờ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm; bản tự nhận xét, đánh giá về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và quá trình công tác; phiếu lý lịch tư pháp. Đặc biệt, nếu các thành phần hồ sơ đã có tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, được trích xuất từ cơ sở dữ liệu này hoặc có trong cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác thì được sử dụng để thay thế bản giấy tương ứng. Quy định này phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong việc quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính.
Việc ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế tiếp nhận vào làm công chức theo hướng mở rộng hơn nguồn tuyển nhưng siết chặt tiêu chuẩn; coi trọng năng lực thực tế và gắn với vị trí việc làm; thuận lợi về thủ tục nhưng tăng tính minh bạch, phù hợp và hiệu quả. Đây là một bước hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn nhân lực khu vực công, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả trong giai đoạn mới./.
Tác giả: Trần Ngọc Duy
Nguồn tin: tcnnld.vn
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập