Năm 2025, ngành công nghiệp phục hồi và tăng trưởng khá toàn diện qua từng quý, thể hiện xu hướng tăng dần về tốc độ tăng giá trị tăng thêm. Quý I/2025, trong bối cảnh nhu cầu thị trường trong nước cải thiện và đơn hàng xuất khẩu từng bước phục hồi, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 7,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,31%, tiếp tục giữ vai trò động lực chính. Sang quý II, Hoa Kỳ bắt đầu công bố áp thuế với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đẩy mạnh sản xuất để trước khi Hoa Kỳ áp dụng mức thuế quan cao hơn, giúp tốc độ tăng giá trị tăng thêm sản xuất công nghiệp đạt 8,31%, với ngành chế biến, chế tạo tăng 10,22%. Từ quý III, hoạt động sản xuất – kinh doanh khởi sắc mạnh hơn, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 9,43%, không chỉ nhờ chế biến, chế tạo tăng 9,61% mà còn do khai khoáng và sản xuất, phân phối điện phục hồi tích cực. Đến quý IV/2025, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm ước tăng 9,87% so với cùng kỳ. Tính chung cả năm 2025, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp ước tăng 8,80%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng gần 9,97% và đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của một số ngành trọng điểm có tốc độ tăng cao so với năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%.
| 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 | |
|---|---|---|---|---|---|
| Khai thác than cứng và than non | 8,8 | 4,9 | -1,7 | -5,4 | 2,5 |
| Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên | -12,7 | 3,6 | -5,9 | -10,6 | -2,5 |
| Sản xuất chế biến thực phẩm | 2,8 | 8,8 | 5,5 | 7,1 | 11,0 |
| Sản xuất trang phục | 7,5 | 15,2 | -1,0 | 12,1 | 13,2 |
| Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan | 5,3 | 15,4 | 0,3 | 13,5 | 11,1 |
| Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy | 4,1 | 9,8 | -0,3 | 9,6 | 10,4 |
| Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế | 8,5 | 8,9 | 1,7 | 12,5 | 10,8 |
| Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất | -0,5 | 2,9 | 9,0 | 12,4 | 12,4 |
| Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic | 2,4 | -6,8 | 12,8 | 24,6 | 15,7 |
| Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác | 1,8 | 6,1 | -3,7 | 1,3 | 16,2 |
| Sản xuất kim loại | 22,0 | -2,3 | 6,9 | 9,8 | 15,4 |
| Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) | 5,3 | 7,4 | 9,0 | 10,8 | 12,5 |
| Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học | 9,6 | 6,7 | -0,8 | 8,1 | 8,3 |
| Sản xuất xe có động cơ | 10,1 | 6,8 | -3,0 | 18,5 | 22,0 |
| Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế | -0,7 | 3,1 | 7,6 | 24,0 | 9,4 |
Biểu 2. Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP các năm 2021-2025
của một số ngành công nghiệp trọng điểm
Ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học là ngành chiếm quyền số cao nhất trong nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, giữ tốc độ tăng trưởng dương và ổn định trong năm 2025 (tăng 8,3%), phản ánh nhu cầu sản xuất và xuất khẩu được duy trì Mặc dù tốc độ tăng của nhóm ngành này trong năm 2025 chậm hơn so với một số ngành trọng điểm khác (như sản xuất xe có động cơ, …). Những tín hiệu tích cực của sản xuất cũng như xuất khẩu đối với các sản phẩm của ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống thu nhập cho người lao động, trực tiếp làm tăng giá trị sản xuất, gián tiếp thúc đẩy phát triển ngành liên quan, nâng cao trình độ lao động, nâng cao trình độ sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Tăng trưởng kim ngạch trong xuất khẩu máy tính, điện tử và linh kiện đã bổ sung nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo động lực tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.
Trong nhóm ngành khai khoáng, khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên là ngành chiếm quyền số cao nhất, là một trong những ngành cốt lõi của sản xuất công nghiệp; ngành dầu khí cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp quan trọng khác. Tuy nhiên, trong năm 2025 ngành này chưa thực sự phát triển và được khai thác hết tiềm năng (giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước). Nguyên nhân chủ yếu là do các dự án mỏ khí lớn vẫn còn chậm tiến độ đầu tư, kết nối hạ tầng hoặc đưa giếng vào khai thác do liên quan đến việc thu xếp vốn và hoàn tất đàm phán thương mại. Mặc dù cuối năm 2025 ngành khai khoáng đã có tín hiệu phục hồi, nhưng tăng trưởng bền vững chỉ có thể đạt được nếu có nguồn khai thác mới hoặc gia tăng đầu tư thăm dò – phát triển mỏ trong các năm tiếp theo.
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 so với năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 17,1%; Đồng Nai tăng 15,2%: Hải Phòng tăng 15,1%; Quảng Ninh tăng 14,9%; Quảng Ngãi tăng 11,1%; Cần Thơ tăng 10,4%; Đà Nẵng tăng 8,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,5%; Vĩnh Long tăng 4,9%.

Hình 1. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 so với năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn
Một số sản phẩm công nghiệp năm 2025 tăng cao so với năm trước: Ô tô tăng 39,1% thép cán tăng 17,6%; tivi tăng 17,4%; thức ăn cho thủy sản tăng và quần áo mặc thường cùng tăng 13,8%; xi măng tăng 13,6%; giày, dép da tăng 13,3%. Trong số các ngành công nghiệp, sản xuất thép thanh, thép góc là một trong số những ngành công nghiệp chủ lực. Sản phẩm thép cán của Việt Nam trong năm 2025 cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại so với năm trước, phản ánh sự cải thiện dần của hoạt động sản xuất công nghiệp sau giai đoạn khó khăn. Động lực chính đến từ nhu cầu trong nước từng bước hồi phục, đặc biệt là hoạt động xây dựng và đầu tư công được đẩy mạnh, giúp tiêu thụ thép ổn định hơn. Bên cạnh đó, xuất khẩu thép có dấu hiệu khởi sắc, mặc dù vẫn chịu tác động từ các rào cản thương mại và cạnh tranh quốc tế, nhưng đã góp phần duy trì nhịp sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tốc độ tăng của sản phẩm thép cán chưa cao hẳn, do ngành vẫn đối mặt với áp lực chi phí đầu vào tăng, biến động giá nguyên liệu và tình trạng công suất dư thừa, khiến các cơ sở sản xuất phải điều tiết sản lượng ở mức thận trọng.
Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% so với năm trước (năm 2024 tăng 11,4%). Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất kim loại tăng 24,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 23,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic và sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy cùng tăng 11,7%. Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ năm 2024: Sản xuất xe có động cơ giảm 7,9%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 3,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 2,8%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2025 ước tăng 13,1% so cùng thời điểm năm trước (thời điểm 31/12/2024 tăng 10,4%). Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: In, sao chép bản ghi các loại tăng 104,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 64,0%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 41,0%; sản xuất sản phẩm thuốc lá và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế cùng tăng 33,8%;…Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 15,6%; sản xuất xe có động cơ giảm 9,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 9,6%; sản xuất kim loại giảm 5,4%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 3,1%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,5%.
Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hoạt động SXKD quý IV/2025 thuận lợi hơn quý III/2025 với 79,1% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD quý IV/2025 so với quý III/2025 tốt hơn và giữ ổn định (35,2% tốt hơn và 43,9% giữ ổn định). Chỉ số cân bằng chung quý IV/2025 so với quý III/2025 là 14,3% (35,2% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD tốt hơn, tăng so với quý trước. Các chỉ số cân bằng thành phần đều ghi nhận xu hướng tích cực như chỉ số cân bằng đơn đặt hàng mới là 13,1%, chỉ số cân bằng khối lượng sản xuất là 15,5%, điều này cho thấy doanh nghiệp đang từng bước khai thác hiệu quả hơn năng lực sản xuất hiện có, thay vì thu hẹp quy mô như giai đoạn khó khăn trước đó. Xu hướng cải thiện về niềm tin cũng được doanh nghiệp duy trì trong đánh giá triển vọng ngắn hạn. Dự báo quý I/2026, có 79,9% doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nhận định hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tốt hơn hoặc ổn định, với chỉ số cân bằng chung đạt 14,9%. Đơn đặt hàng mới và đơn đặt hàng xuất khẩu được kỳ vọng tiếp tục duy trì xu hướng tích cực. Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý I/2026 so với quý IV/2025 tăng với 80,9% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên, cùng với đó các doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới quý I/2026 khả quan hơn với 81,4% doanh nghiệp dự báo tăng và giữ nguyên. Điều này phản ánh sự phục hồi từng bước của nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy niềm tin của doanh nghiệp chưa thực sự vững chắc, khi vẫn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi như chi phí sản xuất gia tăng, lãi suất vay vốn còn cao, sức cầu thị trường trong nước phục hồi chậm và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp vẫn duy trì tâm lý thận trọng trong quyết định mở rộng đầu tư và tuyển dụng lao động.
Nhìn chung năm 2025, mặc dù vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, toàn ngành công nghiệp Việt Nam tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực và đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, nhờ đơn hàng xuất khẩu được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng và môi trường sản xuất ổn định hơn so với các năm trước. Trong khi đó, ngành khai khoáng nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là hoạt động khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, với mức suy giảm trong nửa đầu năm và chỉ phục hồi nhẹ vào cuối năm, qua đó làm hạn chế phần nào tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào gia tăng, biến động của thị trường thế giới và áp lực cạnh tranh tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và địa phương, hoạt động sản xuất công nghiệp đã dần xuất hiện những xu hướng tích cực. Trong thời gian tới, để tiếp tục thúc đẩy sản xuất công nghiệp, cần triển khai đồng bộ các giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho sản xuất phát triển bền vững hơn.
Tác giả: Tuấn Phạm Châu
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập