Chào mừng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Kết quả sản xuất công nghiệp của một số tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn 10 tháng năm 2025

Thứ ba - 18/11/2025 15:11
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Trong mười tháng năm 2025, bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều biến động, xung đột vũ trang giữa một số quốc gia ngày càng diễn biến phức tạp, các yếu tố rủi ro về tăng trưởng kinh tế, nợ công, chuỗi cung ứng hàng hóa, bất ổn chính trị gia tăng; thiên tai, bão lũ… diễn biến khó lường, ảnh hưởng nặng nề đến các quốc gia, khu vực. Ngành công nghiệp nước ta duy trì xu hướng tích cực và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Trong 10 tháng năm 2025, sản xuất công nghiệp tại các tỉnh, thành phố có quy mô lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bình Dương và Hải Phòng ghi nhận những diễn biến tích cực, phản ánh nỗ lực phục hồi và duy trì đà tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, sau quá trình sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, cơ cấu sản xuất công nghiệp tại nhiều địa phương có sự thay đổi rõ nét, góp phần hình thành các trung tâm công nghiệp quy mô lớn hơn, phân bố hợp lý hơn giữa các vùng kinh tế trọng điểm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2025 của hầu hết các địa phương có quy mô công nghiệp lớn đều tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp công nghiệp của các địa phương này đã có sự thích nghi và tăng trưởng tích cực. Cụ thể, so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, IIP của Quảng Ninh tăng 13,3% và 16,1%; Vĩnh Long tăng 11,6% và 6,8%; Cần Thơ tăng 4,5% và 9,6%; Bắc Ninh tăng 4,4% và 16,5%; Hải Phòng tăng 3,8% và 15,0%; Quảng Ngãi tăng 2,7% và 10,8%; Đồng Nai tăng 2,5% và 14,4%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,5% và 7,5%.

Sản xuất công nghiệp Bắc Ninh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn khi một số nhóm ngành hiện gặp khó khăn về thị trường, chi phí sản xuất cũng như tính bền vững trong phát triển. Cụ thể: Nhóm ngành khai khoáng so với tháng trước giảm 21,9% và so với cùng kỳ năm trước giảm 34,3%; xu hướng này cũng tương tự đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (-1,6% và -9,8%). Riêng 2 nhóm ngành: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí và nhóm cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải so với tháng trước đều giảm 6,2% nhưng so với cùng kỳ tăng tương ứng 6,3% và 1,6%. Trong khi đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp có xu hướng tăng nhanh trong năm 2022 nhưng sụt giảm mạnh trong năm 2023 và phục hồi dần từ năm 2024, thể hiện xu hướng tăng trưởng thiếu tính bền vững, phụ thuộc phần lớn vào nhu cầu thị trường; đơn hàng xuất khẩu và chi phí đầu vào… Đây là những nguyên nhân chính khiến ngành này chưa lấy lại đà tăng trưởng ổn định.

Hình 1: Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025
của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn (%)

Tỉnh Bắc Ninh là địa phương có tốc độ tăng IIP 10 tháng cao nhất với tốc độ tăng đạt 16,5% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh tình hình kinh tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục xu hướng ổn định. Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chiếm tỷ trọng lớn, tiếp tục giữ vững vai trò quan trọng với mức tăng 16,6%; ngành khai khoáng giảm 8,0%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 20,5%. Mặc dù cơn bão số 11 làm ảnh hưởng ngập lụt ở một vài nơi trên địa bàn tỉnh nhưng các nhà máy vẫn duy trì hoạt động, trong và sau mưa lũ. Bên cạnh đó, Bắc Ninh hiện vẫn đang là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tại các khu công nghiệp trọng điểm đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung; các tập đoàn lớn về sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục duy trì sản xuất ổn định, đồng thời mở rộng nhà xưởng, củng cố vị thế của ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Một số ngành chủ lực có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 27,6%; sản xuất trang phục tăng 19,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 16,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%.

          Nhờ triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và mở rộng thị trường, sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã duy trì ở mức tăng trưởng khá trong 10 tháng năm 2025 (tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chính, là trụ cột tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với tốc độ tăng 16,6%, đóng góp 15,34 điểm phần trăm vào mức tăng chung toàn ngành. Có được kết quả trên một phần là nhờ sự phát huy hiệu quả của hạ tầng công nghiệp đồng bộ và hiện đại. Các khu công nghiệp lớn như VSIP, Tràng Duệ, Đình Vũ – Cát Hải tiếp tục thu hút nhiều dự án đầu tư mới, đặc biệt là từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Dòng vốn FDI tăng ổn định, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực điện – điện tử, cơ khí chính xác và sản xuất linh kiện ô tô, góp phần quan trọng vào giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực, nhờ nhu cầu xuất khẩu phục hồi và chuỗi cung ứng toàn cầu được khôi phục. Chính quyền thành phố cũng chủ động cải thiện môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp về thủ tục hành chính, hạ tầng logistics và lao động kỹ thuật. Ngoài ra, lợi thế về hệ thống cảng biển nước sâu Lạch Huyện cùng mạng lưới giao thông liên vùng phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất – xuất khẩu, góp phần giúp Hải Phòng duy trì đà tăng trưởng công nghiệp ổn định.

          Khu vực công nghiệp tiếp tục là trụ cột tăng trưởng kinh tế của Đồng Nai sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, phù hợp định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn phát triển bền vững. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,7%; Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,7%; Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,5%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%. Động lực tăng trưởng đến từ môi trường vĩ mô ổn định, đơn hàng phục hồi tại nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp ký được nhiều đơn hàng sản xuất mới. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 32,5%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 31,7%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 24,4%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,1%; Sản xuất kim loại tăng 23,1%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 20,5%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 17,7%… Nhiều sản phẩm công nghiệp 10 tháng năm 2025 có khối lượng tăng vượt trội so với cùng kỳ năm trước nhờ mở rộng và tìm kiếm được thị trường tiêu thụ, ký kết được nhiều đơn hàng mới, một số doanh nghiệp đã tăng tốc sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu đơn hàng ký kết, góp phần tăng trưởng của chỉ số IIP trên địa bàn tỉnh như: Bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 40,6%; Thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 26,8%; Mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 25,2%; Thuốc lá sợi tăng 22,5%; Săm, lốp các loại tăng 16,8%; Thuốc trừ sâu tăng 14,2%; Giường, tủ, bàn ghế tăng 14,2%; Giày dép các loại tăng 14,0%…

Doanh nghiệp công nghiệp tại Quảng Ngãi bước vào giai đoạn cao điểm sản xuất để hoàn thành đơn hàng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối năm.  Với lợi thế là trung tâm công nghiệp của khu vực miền Trung, thu hút nhiều dự án đầu tư trong lĩnh vực lọc – hoá dầu, cơ khí, chế biến và năng lượng. Nhờ đó, hoạt động sản xuất công nghiệp trong 10 tháng năm 2025 tăng trưởng ổn định, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành công nghiệp cấp I đều tăng ở mức hai con số, cụ thể: Ngành khai khoáng tăng 95,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 13,1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,2%. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng khá, đóng góp tích cực vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 9,3% nhờ nhu cầu tiêu thụ nội địa cải thiện; nhóm ngành dệt và sản xuất trang phục duy trì đà phục hồi với mức tăng lần lượt 28,1% và 13,5%, các doanh nghiệp đã ổn định sản xuất và tiếp cận thị trường đầu ra cho sản phẩm, trong đó xuất khẩu đang có xu hướng tăng nhẹ; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 21,7%, đây là điểm sáng đóng vai trò then chốt tạo động lực ổn định cho tăng trưởng công nghiệp toàn tỉnh; ngành sản xuất kim loại tăng 29,7%, trong đó thép cuộn HRC là yếu tố đóng góp chủ yếu với mức tăng 59,0%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,1%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 16,0%.

Thành phố Cần Thơ cũng là địa phương có tốc độ tăng IIP 10 tháng năm 2025 đạt khá so với các địa phương trên cả nước nói chung và so với các địa phương có quy mô công nghiệp lớn nói riêng (tăng 9,6%). Trong đó, ngành khai khoáng giảm 18,2% so với cùng kỳ năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,0%. IIP của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng hơn 2 lần; sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 32,8%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 23,2%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 21,4%; sản xuất đồ uống tăng 19,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 18,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 9,9%;… Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ: Sắt, thép tăng 86,5%[1] ; thủy hải sản xay nhỏ hoặc dạng mắm đặc tăng 43,8%; phân khoáng hoặc phân hóa học (NPK) tăng 41,2%; bộ quần áo trượt tuyết tăng 36,2% ; bao bì và túi bằng giấy (trừ giấy nhăn) tăng 35,0%; đinh, đinh mũ, ghim dập tăng 29,0%; nước có vị hoa quả tăng 28,9%; sữa hoặc kem cô đặc có hoặc không có đường khác tăng 26,9%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 11,2%; tôm đông lạnh tăng 9,6%; phi lê đông lạnh tăng 8,8%;…

[1] Ước tính trong tháng 10/2025, sản lượng đạt hơn 15 nghìn tấn, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp sản xuất đẩy mạnh hoạt động theo đơn đặt hàng, đặc biệt trong quý III có thêm các hợp đồng xuất khẩu sang thị trường Philippines và Campuchia. Nhờ đó, sản lượng sắt thép được gia tăng nhằm đáp ứng tiến độ giao hàng, góp phần làm sản lượng lũy kế tăng 86,48% so với cùng kỳ năm trước.

Tác giả: Tuấn Phạm Châu

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập

Hôm nay

10,857

Tổng lượt truy cập

1,809,790
Hình 1
App
Chuyển đổi số
Ngày quốc gia
Chủ động
Video sp
Bộ công thương
FTA
mail
đảng bộ
cải cách
Tổng đài
Trung tâm xúc tiến
Công đoàn
Hỏi đáp
Đồng nai
Hiệp định
Fake new
Bộ pháp
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây