Theo Cục Thống kê, 6 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025, vượt mức tăng 8,7% của cùng kỳ năm 2025 và là tốc độ tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Đây là tín hiệu cho thấy hoạt động sản xuất đang phục hồi đồng đều, nhờ sự cải thiện của nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu và đầu tư.
Xét theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm tăng tại toàn bộ 34 tỉnh, thành phố. Nhiều địa phương ghi nhận mức tăng cao nhờ công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất điện phát triển mạnh. Đơn cử những địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 như: Quảng Ninh tăng 37,8%; Hà Tĩnh tăng 30,7%; Ninh Bình tăng 27,7%; Phú Thọ tăng 25,8%; Nghệ An tăng 25,0%; Thái Nguyên. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao là Hà Tĩnh tăng 48,3%; Phú Thọ tăng 18,3%; Điện Biên tăng 15,6%. Mức tăng này cho thấy động lực tăng trưởng công nghiệp đang lan tỏa trên phạm vi cả nước.
Có thể thấy mức tăng trưởng công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 cao nhất kể từ năm 2019 không chỉ phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực sản xuất mà còn tạo nền tảng quan trọng để kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao trong năm 2026. Với công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt cùng sự cải thiện về tiêu thụ, lao động và năng lực sản xuất, khu vực công nghiệp được kỳ vọng sẽ tiếp tục là động lực then chốt, củng cố tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận những tín hiệu khởi sắc trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) duy trì mức tăng hai con số, cao nhất kể từ năm 2019. Kết quả này phản ánh đà phục hồi vững chắc của khu vực sản xuất, đồng thời khẳng định vai trò đầu tàu của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Năm 2026, ngành công nghiệp được kỳ vọng duy trì vai trò động lực tăng trưởng với mục tiêu tăng trên 10%, trong đó cả năm phấn đấu đạt mức tăng 11,4%. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tăng trưởng công nghiệp các quý còn lại phải tăng tốc mạnh, đồng thời phụ thuộc lớn vào diễn biến thị trường xuất khẩu, đầu tư và hiệu quả các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong nước.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về mục tiêu tăng trưởng hai con số trong lĩnh vực công nghiệp, ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, cho biết năm 2025, cơ cấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 24,5% trong GDP. Do đó, để đạt được mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 28% là một thách thức rất lớn. “Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nghẽn chưa được khắc phục như phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền sản xuất nội địa còn rất nhiều hạn chế”, ông Trần Việt Hòa - Cục trưởng Cục Công nghiệp nêu.
Nêu giải pháp cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới, lãnh đạo Cục Công nghiệp khẳng định, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất ở Việt Nam; từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm nhập khẩu nhằm hỗ trợ sản phẩm trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa...
Phân tích kỹ hơn, ông Trần Việt Hòa cho biết, Bộ sẽ xem xét nghiên cứu và ban hành các ưu đãi, hỗ trợ cho việc sản xuất các vật liệu cơ bản như thép chế tạo (phục vụ cho các ngành cơ khí); nguyên phụ liệu, vải và da thuộc cho các ngành dệt may và da - giày; các sản phẩm từ hóa dầu như hạt nhựa, khuôn nhựa, cao su nhân tạo, sợi nhân tạo... để bảo đảm đầu vào cho các ngành công nghiệp hỗ trợ cũng như các ngành công nghiệp hạ nguồn.
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi mục tiêu công nghiệp hóa lấy công nghiệp chế biến, chế tạo làm trọng tâm. Vì vậy, nguồn lực xã hội cần tập trung vào việc xây dựng và nâng cao năng lực, năng suất cho các doanh nghiệp công nghiệp trong nước, hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp mạnh, các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong nước có đủ năng lực cạnh tranh toàn cầu; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi để các doanh nghiệp công nghiệp trong nước có thể lớn mạnh, tạo ra giá trị gia tăng trong nước lớn hơn, kết nối được với khu vực đầu tư nước ngoài, và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bộ Công Thương đã được Chính phủ giao nhiệm vụ quan trọng là xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm. Theo đó, công nghiệp trọng điểm được định nghĩa là các ngành công nghiệp có tính chất nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Đảng đã xác định trong bối cảnh nguồn lực quốc gia có hạn, để tiến hành công nghiệp hóa đất nước cần ưu tiên phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lực cho một số ngành công nghiệp có tính chất nền tảng, mũi nhọn, ưu tiên (ngành công nghiệp trọng điểm) để tạo tác động lan tỏa đến cả nền công nghiệp. Việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công nghiệp hóa và phát triển công nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia bám sát định hướng này.
Đánh giá cao về việc xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm, TS Trịnh Thị Thanh Thuỷ - Nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cũng khẳng định, Luật Công nghiệp trọng điểm được thông qua sẽ tạo cơ sở, nền tảng pháp lý thống nhất để Chính phủ có thể linh hoạt ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp.
“Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cũng đặt mục tiêu tái cơ cấu ngành Công Thương nhằm thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh; tạo lập các động lực tăng trưởng mới gắn với chuyển biến về chất mô hình tăng trưởng của ngành Công Thương. Theo đó, cần thiết phải có Luật Công nghiệp trọng điểm với các chính sách để định hướng liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, tạo ra mạng lưới liên kết vùng, các cụm, các chuỗi công nghiệp…”, TS. Trịnh Thị Thanh Thuỷ chỉ ra.
Cùng với đó, đẩy mạnh tái cơ cấu chuỗi công nghiệp và chuỗi cung ứng, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng lực tự chủ sản xuất trong nước; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới. Đẩy nhanh triển khai các dự án công nghiệp quy mô lớn. Xây dựng các chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng chiến lược của các nước. Đây sẽ là bước tạo đà để tiếp tục thúc đẩy hoạt động sản xuất công nghiệp hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Theo Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương đang tập trung triển khai 3 giải pháp then chốt. Thứ nhất, tiếp tục chủ động triển khai hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng của Chính phủ, thúc đẩy đưa vào vận hành các dự án sản xuất công nghiệp mới nhằm phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, tạo thêm năng lực cho phát triển sản xuất và nguồn hàng cho xuất khẩu.
Tác giả: Trang Nguyễn Thị Xuân
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập