Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GDP hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu năng lượng trở thành yếu tố quyết định đối với ổn định kinh tế vĩ mô.
Cùng với đó, quá trình công nghiệp hóa sâu rộng, phát triển hạ tầng số và mở rộng hệ thống logistics khiến nhu cầu điện dự kiến tăng từ 12 - 14% mỗi năm.
Tuy nhiên, sản lượng nhiên liệu hóa thạch trong nước có xu hướng suy giảm, trong khi nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm xăng dầu ngày càng tăng. Sự phụ thuộc lớn vào thị trường năng lượng quốc tế khiến Việt Nam dễ bị tổn thương trước các cú sốc địa chính trị và biến động giá năng lượng toàn cầu.
![]() |
Thống kê cho thấy, năm 2025, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ khu vực Trung Đông đạt khoảng 11,2 tỷ USD, chỉ tương đương 2,56% tổng giá trị nhập khẩu cả nước.
Dù tỷ trọng không lớn, một số mặt hàng lại có mức độ phụ thuộc đáng kể vào khu vực này. Theo đó, có tới 79,08% lượng dầu thô nhập khẩu đến từ Kuwait, khí đốt hóa lỏng (LPG) chiếm 18,86% với nguồn từ UAE (3,18%), Kuwait (2,67%), Qatar (8,13%) và Saudi Arabia (4,89%), cùng 10,28% chất dẻo nguyên liệu.
Hiện sản lượng dầu thô toàn cầu khoảng 103 triệu thùng/ngày, trong đó khu vực Trung Đông đóng góp gần 1/3 tổng sản lượng. Một số nước sản xuất lớn gồm: Saudi Arabia khoảng 10,8 triệu thùng/ngày, Iran khoảng 4,6 triệu thùng/ngày và UAE khoảng 4,5 triệu thùng/ngày.
Cùng với đó, eo biển Hormuz là tuyến vận chuyển năng lượng then chốt của thế giới, chiếm khoảng 30% thương mại dầu mỏ toàn cầu và 20% thương mại khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Trong đó, Saudi Arabia là quốc gia xuất khẩu dầu lớn nhất qua tuyến đường này, còn Qatar giữ vai trò dẫn đầu về xuất khẩu LNG.
Do đó, nếu xung đột Trung Đông leo thang và Iran đóng cửa eo biển Hormuz, nguồn cung dầu thô nhập khẩu của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng đáng kể.
Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu vào đầu tháng 3/2026 cho thấy rủi ro năng lượng đe dọa nền kinh tế của Việt Nam. Xung đột quân sự tại Trung Đông và việc đóng cửa Eo biển Hormuz đã gây gián đoạn nghiêm trọng các tuyến vận tải năng lượng quốc tế.
Giá dầu Brent có phiên tăng vọt lên hơn 120 USD/thùng, kéo theo chi phí nhập khẩu nhiên liệu tăng mạnh tại nhiều nền kinh tế châu Á. Việt Nam nhanh chóng chịu tác động khi giá xăng dầu trong nước tăng nhanh, đẩy chi phí vận tải, logistics và sản xuất công nghiệp lên cao, tạo nguy cơ lạm phát chi phí đẩy.
Trước bối cảnh này, Chính phủ Việt Nam đã triển khai các biện pháp tài khóa linh hoạt, nhằm ổn định thị trường năng lượng và bảo vệ nền kinh tế.
Nổi bật nhất là ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP ngày 9/3/2026 sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi cho xăng dầu, có hiệu lực ngay ngày ban hành. Theo đó, giảm thuế nhập khẩu ưu đãi tối huệ quốc đối với nhiều sản phẩm xăng dầu và nguyên liệu hóa dầu xuống mức 0%, giúp doanh nghiệp nhập khẩu có thể tiếp cận nguồn cung nhiên liệu từ nhiều thị trường khác nhau, mà không bị ràng buộc bởi thủ tục chứng nhận xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do.
Nguồn cung nhiên liệu được đa dạng hóa, thời gian nhập khẩu rút ngắn và nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong nước được giảm thiểu.
![]() |
Tác giả: Tuyền Lê Hà Thanh
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập