Điểm sáng và tích cực
(1) Năm 2025 kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng 8,02%, đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra. Mức tăng này chỉ thấp hơn tốc độ tăng 8,54% của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025[1] (trong đó quý I tăng 7,05%; quý II tăng 8,16%; quý III tăng 8,25%; quý IV tăng 8,46%). Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%. Khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%. Trong đó, tăng trưởng của một số ngành dịch vụ thị trường như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%; bán buôn và bán lẻ tăng 8,52%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%.
(2) Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế với sản lượng lúa và nhiều loại cây ăn quả đạt mức cao; chăn nuôi gia cầm duy trì sản xuất ổn định; hoạt động lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản tiếp tục đạt kết quả khả quan nhờ đẩy mạnh xuất khẩu và ứng dụng khoa học, công nghệ.
Năng suất lúa cả năm ước đạt 61,1 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm 2024 nhờ áp dụng giống lúa mới, kỹ thuật canh tác được cải thiện và thời tiết thuận lợi; sản lượng lúa cả năm ước đạt 43,5 triệu tấn, tăng 88,6 nghìn tấn và cao nhất trong 4 năm qua[2]. Sản lượng thu hoạch nhiều loại cây ăn quả năm 2025 tăng so với năm 2024 nhờ mở rộng diện tích cây có giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ mở rộng[3].
Chăn nuôi gia cầm tăng 3,0% so với năm trước. Sản lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng so với năm trước do đẩy mạnh sản xuất liên kết theo chuỗi, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, tăng cường hợp tác giữa nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định đầu ra của sản phẩm[4].
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 323,3 nghìn ha, tăng 6,4% so với năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 25,6 triệu m3, tăng 6,9% chủ yếu do giá nguyên liệu gỗ ổn định ở mức cao đã khuyến khích người dân đẩy mạnh khai thác gỗ.
Nuôi trồng thủy sản là động lực tăng trưởng của ngành thủy sản nhờ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất. Tính chung năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 6.116,8 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm trước. Trong đó, cá tra ước đạt 1.938,8 nghìn tấn, tăng 5,0%; tôm thẻ chân trắng đạt 944,4 nghìn tấn, tăng 6,9%.
(3) Sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt nhiều kết quả khả quan. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 10,8%. Tính chung cả năm 2025, IIP tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019[5]; trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%[6]. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng năm 2025 với mức tăng ấn tượng đạt 9,62%, cao nhất kể từ năm 2017, tạo thêm nhiều năng lực mới tăng cho nền kinh tế.
(4) Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 ước tăng 9,2% so với năm trước; vận chuyển hành khách tăng 22,2% và luân chuyển tăng 13,6%; vận chuyển hàng hóa tăng 14,1% và luân chuyển tăng 13,1%.
Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 đạt gần 21,2 triệu lượt khách, tăng 20,4% so với năm trước và là số lượng khách đến nước ta đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 ước đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0%; nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nguồn ngoại tệ và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.
(5) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay, cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh tiếp tục xu hướng tích cực ở nhiều ngành, lĩnh vực; niềm tin vào phát triển kinh tế Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài được tăng cường. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm trước. Trong đó vốn khu vực Nhà nước đạt 1.233,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 19,7%.
Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trong năm đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0%, là mức thực hiện cao nhất trong giai đoạn 2021-2025[7].
(6) Số lượng đăng ký doanh nghiệp năm 2025 tăng cao nhờ Nghị quyết số 68-NQ/TW được triển khai và phát huy hiệu quả. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt 297,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm trước, gấp 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế năm 2025 đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024, trong đó số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động đạt hơn 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 118,3%.
(7) Lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý IV/2025 tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước, bình quân năm 2025 tăng 3,31%, thấp hơn mức tăng 3,63% của năm 2024 và vượt mục tiêu Quốc hội đề ra. Lạm phát cơ bản tăng 3,21%.
(8) Tốc độ tăng năng suất lao động năm 2025 vượt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP, ước đạt 6,83%, do trình độ của người lao động được cải thiện, tăng trưởng kinh tế ở mức khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào.
(9) Lao động, việc làm, thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với năm trước; công tác bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, hoạt động cứu trợ Nhân dân vùng thiên tai, bão lụt được thực hiện rộng khắp, thiết thực và hiệu quả. Năm 2025, lao động có việc làm là 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người so với năm trước; thu nhập bình quân của lao động là 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 685 nghìn đồng. Chính phủ hỗ trợ cho Nhân dân gặp khó khăn gần 42,1 nghìn tấn gạo[8]; hỗ trợ cho người có công, thân nhân người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo và bất thường phát sinh hơn 92,4 nghìn tỷ đồng.
Hạn chế, tồn tại
(1) Sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề do mưa, lũ, dịch bệnh. Mưa bão liên tiếp trong quý III/2025 đã gây thiệt hại nhiều diện tích lúa và hoa màu ở một số địa phương vùng Bắc bộ và Bắc Trung Bộ; dịch tả lợn châu Phi bùng phát mạnh và lan rộng trên phạm vi cả nước khiến chăn nuôi lợn chịu nhiều thiệt hại, số lợn bị chết và tiêu hủy lớn[9].
(2) Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp, chỉ số tồn kho tăng cao so với năm trước. Tính chung năm 2025, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% (năm trước tăng 11,4%); chỉ số tồn kho tại thời điểm 31/12/2025 tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 10,4%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân năm 2025 là 81,1% (năm trước là 77,1%).
(3) Chi phí sản xuất đầu vào vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ số giá sản xuất sản công nghiệp năm 2025 tăng 2,55% so với năm 2024, cao hơn so với các năm 2023 và 2024 (lần lượt giảm 0,89% và tăng 0,59%); chỉ số giá nguyên, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,36% (năm 2023 và 2024 lần lượt giảm 1,11% và tăng 2,87%).
(5) Doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về vốn sản xuất kinh doanh. Mặc dù số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt mức tăng trưởng ấn tượng, nhưng quy mô vốn của các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự bứt phá. Năm 2025, mức vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,8 tỷ đồng, chỉ tương đương năm 2024 và thấp hơn các năm trong giai đoạn 2017-2023[10].
(6) Tỷ lệ lao động phi chính thức còn ở mức cao, ảnh hưởng đến năng suất lao động toàn nền kinh tế. Năm 2025, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 63,1%, trong đó khu vực thành thị là 47,0% và khu vực nông thôn là 73,3%.
(7) Tình hình dịch bệnh, cháy nổ diễn biến phức tạp. Năm 2025, cả nước có 117,6 nghìn trường hợp sốt phát ban nghi sởi (11 người tử vong); 181,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong); 96,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (02 trường hợp tử vong); 374 người mắc bệnh viêm não vi rút (01 ca tử vong)… Trên địa bàn cả nước xảy ra 3.182 vụ cháy, nổ, làm 108 người chết và 135 người bị thương, thiệt hại ước tính 548,5 tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước.
Kiến nghị
Với những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế nêu trên, bước sang năm 2026, kinh tế – xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, với độ mở nền kinh tế cao trong khi kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn; biến động nhanh và khó lường về kinh tế, chính trị, quân sự; dịch bệnh, thiên tai khó dự báo trước. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026, Cục Thống kê đề xuất một số kiến nghị, giải pháp sau:
Một là, tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm các cân đối lớn; nâng cao tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo; liên tục cập nhật các kịch bản về tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá, lãi suất, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả, hài hòa các chính sách tài khóa, tiền tệ có trọng tâm, trọng điểm để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy các động lực tăng trưởng.
Hai là, có giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời để đẩy nhanh hơn nữa tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trong năm 2026, đặc biệt các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia; có giải pháp tháo gỡ vướng mắc, xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Có chính sách ưu đãi, cạnh tranh, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi để thu hút các dự án lớn, dự án công nghệ cao. Xây dựng cơ chế hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, trong một số lĩnh vực có tiềm năng, tạo sự bứt phá, động lực mới cho tăng trưởng như chíp, bán dẫn, đổi mới sáng tạo, hydrogen xanh…
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm các ngành công nghiệp có lợi thế. Ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ mới, các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới nổi như chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực trong nước.
Bốn là, thúc đẩy xuất khẩu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng, đa dạng hoá chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất và thị trường xuất, nhập khẩu gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm; tham gia sâu, rộng hơn vào các chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu. Khai thác hiệu quả các cơ hội từ các FTA đã ký kết; đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn, chủ lực; tăng cường khai thác các thị trường mới, tiềm năng, thị trường Trung Đông, Halal, Mỹ La-tinh, châu Phi, phấn đấu thặng dư thương mại bền vững. Nghiên cứu, nắm bắt các cơ hội mới, xu hướng phục hồi để đẩy mạnh xuất khẩu, tận dụng tốt và tiếp tục thúc đẩy các hiệp định thương mại song phương và đa phương để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Năm là, phát triển mạnh thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy du lịch, tăng cường xúc tiến thương mại thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú, trong đó có tổ chức các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…đổi mới nội dung, phương thức xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, bền vững để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; có các giải pháp đột phá, liên tục làm mới sản phẩm, tập trung nghiên cứu kỹ thị trường, đặc biệt là những thị trường mới, có nhiều tiềm năng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách du lịch.
Sáu là, thực hiện có hiệu quả và kịp thời các chính sách an sinh xã hội; trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các ngành, lĩnh vực công nghiệp mới. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh; chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở./.
CỤC THỐNG KÊ
[1] Tốc độ tăng GDP các năm 2011-2025 lần lượt là: 6,41%; 5,50%; 5,55%; 6,42%; 6,99%; 6,69%; 6,94%; 7,47%; 7,36%; 2,87%; 2,55%; 8,54%; 4,98%; 7,04% và 8,02%.
[2] Sản lượng lúa các năm 2022-2025 lần lượt là: 42.660,9 nghìn tấn; 43.497,7 nghìn tấn; 43.451,6 nghìn tấn; 43.540,2 nghìn tấn.
[3] Trong đó sản lượng vải năm 2025 tăng 60,3% so với năm trước; sầu riêng tăng 18,8%; mít tăng 13,7%…
[4] Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2025 đạt 5.389,2 nghìn tấn, tăng 3,9% so với năm trước; thịt gia cầm đạt 2.601,9 nghìn tấn, tăng 5,9%; trứng gia cầm đạt 21,4 tỷ quả, tăng 5,3%; sữa tươi đạt 1,3 triệu tấn, tăng 5,5%.
[5] Chỉ số IIP các năm 2019-2025 lần lượt là: 9,1%; 3,3%; 4,7%; 7,4%; 1,3%; 8,2%; 9,2%.
[6] Sản xuất xe có động cơ tăng 22,0%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,7%; sản xuất kim loại tăng 15,4%; sản xuất trang phục tăng 13,2%…
[7] Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện các năm 2021-2025 lần lượt là: 19,7 tỷ USD; 22,4 tỷ USD; 23,2 tỷ USD; 25,4 tỷ USD; 27,6 tỷ USD.
[8] Trong đó: Hỗ trợ 6,0 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 402,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 4,3 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 284,5 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 31,8 nghìn tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho khoảng hơn 2,1 triệu nhân khẩu.
[9] Tổng số lợn chết và tiêu hủy do dịch tả lợn châu Phi năm 2025 là khoảng 1,27 triệu con.
[10] Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới các năm trong giai đoạn 2017-2025 (đơn vị tính: Tỷ đồng) lần lượt là: 10,2; 11,3; 12,5; 16,6; 13,8; 10,7; 9,9; 9,8; 9,8.
Tác giả: Tuấn Phạm Châu
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập