1. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tăng 3,47% so với tháng trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 4,91%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,79%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,31%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,26%.
So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2026 ước tăng 17,17%. Cụ thể, công nghiệp khai khoáng tăng 5,54%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,74%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 30,13%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,55%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 6,18%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,18%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 41,32%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,87%.
Trong mức tăng chung của toàn ngành, ngành sản xuất và phân phối điện ghi nhận mức tăng trưởng cao, trở thành nhân tố đóng góp quan trọng khi các nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 chính thức đi vào vận hành thương mại từ cuối năm 2025, bổ sung đáng kể nguồn cung điện cho hệ thống. Việc gia tăng công suất phát điện không chỉ làm tăng giá trị sản xuất của ngành điện mà còn góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp tỷ trọng lớn vào mức tăng chung của chỉ số sản xuất toàn ngành. Các ngành chủ lực như điện tử, chế biến gỗ, dệt may, da giày, sản phẩm kim loại và sản phẩm từ cao su – plastic duy trì đà phục hồi, đơn hàng xuất khẩu cải thiện, công suất hoạt động được nâng lên.
Hầu hết các ngành công nghiệp đều ghi nhận mức tăng so với tháng trước. Một số ngành tăng khá như: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,31%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 8,71%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,13%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,62%; khai khoáng khác tăng 4,91%...
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 61,72%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 55,73%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 46,71%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 42,20%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 36,62%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 34,21%; sản xuất kim loại tăng 29,61%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,23%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 28,23%...
Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như: sản xuất xe có động cơ giảm 9,30%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 6,21%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu giảm 2,84%...
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong tháng 4 có mức tăng cao so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 21,83%; thuốc lá sợi tăng 9,81%; săm, lốp các loại tăng 7,84%; mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 7,53%; cà phê các loại tăng 5,61%... Bên cạnh đó, vẫn còn một số mặt hàng gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ như: thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản giảm 1,16%; bột ngọt (mì chính) giảm 0,05%; sơn các loại giảm 0,77%...
So với cùng kỳ năm trước, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có mức tăng cao như: thuốc lá sợi tăng 61,62%; điện sản xuất tăng 37,54%; mạch điện, tủ điện, sản phẩm điện tử khác tăng 35,90%; thuốc trừ sâu tăng 35,05%; giường, tủ, bàn ghế tăng 29,28%; thép dạng thô và bán thành phẩm tăng 27,65%... Trong khi đó, một số sản phẩm còn gặp khó khăn như: cà phê các loại giảm 15,90%; vải các loại giảm 13,50%; bột ngọt (mì chính) giảm 6,72%; giày dép các loại tăng thấp ở mức 1,06%...
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4 năm 2026 ước tăng 1,91% so với tháng trước và tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm tăng 10,96% so cùng kỳ. Kết quả này cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn đang ở trạng thái tích cực. Một số ngành có mức tiêu thụ cao gồm: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 77,46%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 69,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 40,08%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,37%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 31,94%; sản xuất kim loại tăng 29,77%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,34%...
Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tháng 4 năm 2026 tăng 0,68% so với tháng trước, giảm 1,63% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng giảm 4,51%. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ sau kỳ nghỉ Tết và việc doanh nghiệp điều chỉnh lao động phù hợp với kế hoạch sản xuất. Mức giảm tập trung chủ yếu ở các ngành da giày và may mặc.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2026 tăng 8,66% so với tháng trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 77,43%; Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 51,19%; Công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,43%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 14,92%…
2. Hoạt động bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 năm 2026 tiếp tục xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên mức tăng chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Bán lẻ hàng hóa ổn định nhưng chưa thực sự sôi động, sức mua cải thiện chậm do người tiêu dùng có xu hướng thận trọng hơn trong chi tiêu, ưu tiên các mặt hàng thiết yếu và cắt giảm đối với nhóm hàng không thiết yếu trong bối cảnh giá cả một số mặt hàng đầu vào còn ở mức cao. Các doanh nghiệp và hệ thống phân phối đã chủ động triển khai nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá, kích cầu tiêu dùng; Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, bán hàng đa kênh tiếp tục được chú trọng, góp phần mở rộng thị trường và thúc đẩy tiêu dùng, từng bước cải thiện sức mua thị trường.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 36.275,3 tỷ đồng, tăng 2,39% so tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 148.440,2 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng 15,02%, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 19,11%, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành tăng 20,88% và doanh thu dịch vụ khác tăng 18,56%. Cụ thể phân theo ngành hoạt động như sau:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 23.690,5 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 97.693,5 tỷ đồng, chiếm 65,8% và tăng 15,02% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố tăng giá thì bán lẻ hàng hóa tăng 10,88%). Hầu hết các nhóm hàng bán lẻ chủ yếu đều có mức tăng so cùng kỳ. Trong đó, nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 18,55%; xăng, dầu các loại tăng 21,2% do biến động giá và nhu cầu sản xuất, vận tải tăng; hàng may mặc tăng 17,17%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,21%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 12,87%; lương thực, thực phẩm tăng 12,32%; ô tô các loại tăng 10,47%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,81%; phương tiện đi lại (kể cả phụ tùng) tăng 8,11%... Hoạt động thương mại tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất dần phục hồi. Trong đó, nhóm xăng dầu tăng cao chủ yếu do tác động của yếu tố giá và nhu cầu vận tải, sản xuất gia tăng; nhóm hàng gia dụng và may mặc tăng mạnh nhờ nhu cầu tiêu dùng cải thiện và các chương trình khuyến mại, kích cầu được triển khai rộng rãi. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng có mức tăng khá như vật liệu xây dựng, phương tiện đi lại cho thấy dấu hiệu phục hồi của hoạt động đầu tư xây dựng và nhu cầu mua sắm tài sản phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Tuy nhiên, mức tăng doanh thu 4 tháng đầu năm chủ yếu vẫn chịu tác động của yếu tố giá, sức mua thực tế cải thiện chưa rõ rệt.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 4/2026 ước đạt 5.075,5 tỷ đồng, tăng 0,86% so tháng trước và tăng 16,96% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 20.407,8 tỷ đồng, chiếm 13,7% tổng mức và tăng 19,11% so với cùng kỳ. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 16,47%; dịch vụ ăn uống tăng 19,18%.
Doanh thu du lịch lữ hành tháng 4/2026 ước đạt 36,7 tỷ đồng, tăng 0,23% so tháng trước và tăng 7,76% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 155,8 tỷ đồng, tăng 20,88% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ khác tháng 4/2026 ước đạt 7.473,3 tỷ đồng, tăng 0,93% so tháng trước và tăng 14,91% so cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 30.183,1 tỷ đồng, chiếm 20,3% tổng mức và tăng 18,56% so với cùng kỳ.
Tác giả: lanptm sct
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập