Chào mừng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9

Báo cáo Ban Chỉ đạo phát triển Kinh tế tỉnh Đồng Nai năm 2023, phương hướng nhiệm vụ năm 2024

Thứ ba - 19/03/2024 18:37
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  

A. KẾT QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ NĂM 2023

I. Công tác thông tin, tuyên truyền và hoạt động của Ban Chỉ đạo

1. Công tác thông tin, tuyên truyền

- Thông tin, tuyên truyền các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, các quy định liên quan về hội nhập kinh tế quốc tế. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo an ninh kinh tế, đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương trong quá trình hội nhập quốc tế.

- Cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí nhằm thông tin tuyên truyền
về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, môi trường, tiềm năng đầu tư, lợi
thế cạnh tranh của tỉnh.

- Công khai thông tin chính sách pháp luật Thuế, Hải quan và Phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp; tài liệu bồi dưỡng pháp luật kinh doanh cho các đối tượng quản lý doanh nghiệp, cán bộ làm công tác pháp chế tại các doanh nghiệp với các hình thức dễ hiểu và dễ áp dụng, góp phần nâng cao trình độ pháp luật cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong triển khai dự án, kế hoạch; giải quyết kịp thời các thủ tục hành chính, khó khăn, vướng mắc, góp phần hỗ trợ pháp lý, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cho doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh truyền thông, quảng bá mạnh mẽ về tuần lễ chuyển đổi số tỉnh Đồng Nai năm 2023 trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm lan tỏa thông điệp, nhận thức về chuyển đổi số, với mục đích nâng cao nhận thức của toàn xã hội về chuyển đổi số, vận động toàn xã hội cùng tham gia tiến trình chuyển đổi số cùng với chính quyền.

- Ra mắt mini app “Đồng Nai Smart” trên nền tảng Zalo, với nhiều tính năng thiết thực phục vụ các nhu cầu gắn liền với đời sống dân sinh.

- Thực hiện 22 chuyên đề và 02 phóng sự, 02 tọa đàm tuyên truyền về kinh tế tập thể; tuyên truyền các chính sách, thủ tục về thuế 39 kỳ báo; tuyên truyền 755 lần về chính sách thuế; 24 chuyên đề khuyến công phát sóng trên Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai; Xây dựng và phát hành 04 kỳ Bản tin khuyến công với số lượng 1.600 cuốn; Thiết kế, in ấn 1.000 cuốn brochure sản phẩm CNNT tiêu biểu năm 2022. In và phát hành 350 cuốn Bản tin Tài nguyên và môi trường số Xuân Quý Mão năm 2023 và phát hành online Bản tin số số 6 tháng đầu năm 2023.

- Tiếp tục duy trì hoạt động phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm CNNT tiêu biểu và sản phẩm OCOP (hiện đang trưng bày, giới thiệu khoảng 300 mặt hàng)

- Tổ chức các Hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp nhằm cập nhật các quy định mới liên quan Hỗ trợ doanh nghiệp và tháo gỡ khó khăn vướng mắc đối với thủ tục quyết toán thuế, hoàn thuế cho Doanh nghiệp khi triển khai áp dụng hóa đơn điện tử; trang bị kiến thức, thông tin cần thiết cho cán bộ, viên chức, người lao động các Sở, ngành, đại diện doanh nghiệp tổng quan về các hiệp định thương mại, các quy định mới nhất của Đảng, Nhà nước và của quốc tế đối với công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế; tuyên truyền Luật Hợp tác xã 2012, Nghị định số 193/NĐ-CP của Chính phủ và các chương trình, chính sách hỗ trợ liên quan đến lĩnh vực kinh tế tập thể; tạo lập, khai thác dữ liệu, trí tuệ nhân tạo AI, Chat GPT.

- Tổ chức 24 Hội nghị triển khai tuyên truyền phổ biến các quy định về pháp luật lao động, luật BHXH, an toàn toàn vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành cho trên 3.600 người sử dụng lao động, cán bộ quản lý, nhân sự, tiền lương, bảo hiểm xã hội, cán bộ công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp, hòa giải viên, trọng tài viên lao động, cán bộ cấp huyện/cấp xã; 01 hội nghị đối thoại thường niên, định kỳ hàng năm của Hội đồng An toàn VSLĐ tỉnh với các doanh nghiệp công tác an toàn, vệ sinh lao động với khoảng 200 cán bộ sở ngành và đại diện các doanh nghiệp tham dự.

Bên cạnh đó còn thực hiện các hoạt động tuyên truyền khác như: Tổ chức 22 chuyến xe tuyên truyền lưu động tại các huyện, thành phố, cổng các khu công nghiệp; In ấn và phát hành 3.000 tờ rơi tuyên truyền chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phát cho doanh nghiệp và người lao động; Triển khai 600 phiếu tự kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động cho các doanh nghiệp; Phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai đã đưa 08 phóng sự, 10 lượt tin, 04 bài tuyên truyền và Báo Đồng Nai thực hiện 03 bài viết chuyên đề tuyên truyền công tác an toàn, vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

- Tổ chức gặp gỡ, đối thoại với người dân về việc triển khai thực hiện Đề án đào tạo nghề, giải quyết việc làm và tổ chức lại cuộc sống của người dân thuộc Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không Quốc tế Long Thành.

2. Hoạt động của Ban Chỉ đạo

- Ban Chỉ đạo Phát triển Kinh tế tỉnh tổ chức Đoàn học tập kinh nghiệm về Logistics tại thành phố Hải Phòng. Sau khi học tập kinh nghiệm đã tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thành lập “Ban vận động thành lập Hiệp hội Logistics tỉnh Đồng Nai”.

- Kiện toàn Ban Chỉ đạo nhằm điều chỉnh nhân sự phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương được Chủ tịch UBND tỉnh chấp thuận tách nhiệm vụ Bàn Kansai ra khỏi Ban Chỉ đạo Phát triển Kinh tế tỉnh theo đề xuất của Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh; Căn cứ Quyết định số 2299/QĐ-UBND ngày 26/9/2023 của UBND tỉnh về việc đều động, bổ nhiệm Giám đốc Sở Công Thương Kiện toàn BCĐ thay đổi Phó ban Thường trực BCĐ.

3. Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GDRP)

- Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm 2023 (theo giá so sánh 2010) đạt 246.448,8 tỷ đồng, tăng 5,3% so với cùng kỳ, mức tăng trưởng dự kiến thấp hơn nhiều so với mục tiêu cả năm. Các khu vực kinh tế đều có mức tăng trưởng, tuy nhiên mức tăng trưởng của khu vực công nghiệp, xây dựng rất thấp (tăng 5,3%).

- Cơ cấu kinh tế năm 2023 khu vực nông lâm thủy sản chiếm 9,33%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 59,47%; Dịch vụ chiếm 23,47%; Thuế chiếm 7,73%.

- GRDP bình quân đầu người năm 2023 đạt 139,75 triệu đồng/người tăng 4,6% so cùng kỳ, không đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra đạt còn thấp (Nghị quyết là 145,150 triệu đồng/người).

4. Về sản xuất công nghiệp

- Năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,27% so cùng kỳ đây là mức tăng thấp nhất so với nhiều năm qua (trừ năm 2021 do ảnh hưởng của dịch Covid-19), trong đó ngành khai khoáng tăng 4,89%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,07%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 10,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước tăng 4,65%. Mặc dù chỉ số sản xuất của năm 2023 tăng so năm 2022, tuy nhiên trên thực tế hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp đến cuối năm 2023 vẫn rất khó khăn, chưa có dấu hiệu tích cực hơn so với những tháng đầu năm.

- Năm 2023, một số ngành công nghiệp chủ lực cấp II có chỉ số sản xuất đạt mức tăng khá so cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống tăng 7,96%, sản xuất chế biến thực phẩm 5,37%; May mặc tăng 6,75%; sản xuất hóa chất tăng 5,65%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 9,63%. … một số ngành sản xuất khác như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,93%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 5,94%; sản xuất kim loại đúc sẵn tăng 10,68%; sản xuất thiết bị điện tăng 6,95%, sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 7,26%.v.v… Tuy nhiên mức tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2023 thấp hơn rất nhiều so với các năm trước.

5. Hoạt động xây dựng

 Giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành đạt 78.290,7 tỷ đồng, tăng 21,41% so cùng kỳ, trong đó: Doanh nghiệp nhà nước đạt 554,53 tỷ đồng, tăng 2,46 lần; Doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 55.289,27 tỷ đồng, tăng 22,06%; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.292,45 tỷ đồng, tăng 10,41%; Loại hình khác đạt 18.154,51 tỷ đồng, tăng 20,42%.

6. Về sản xuất nông nghiệp

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (theo giá so sánh 2010) ước đạt 48,87 nghìn tỷ đồng, tăng 3,63% so với năm 2022 (CK)[1], vượt chỉ tiêu kế hoạch (KH: 3 – 3,5%). GRDP nông, lâm, thủy sản ước đạt 23.759 tỷ đồng, tăng 3,45% so với năm 2022, vượt chỉ tiêu kế hoạch (KH: 2,8 – 3,2%), đóng góp 9,33% giá trị trong tổng GRDP toàn tỉnh. Giá trị sản phẩm trên ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ước đạt 153 triệu đồng/ha, tăng 5% so với năm 2022.

- Trồng trọt: 100% diện tích trồng mới và tái canh đã sử dụng các giống mới, giống có chất lượng cao. Tổng diện tích cây ăn quả toàn tỉnh 76 ngàn ha, sản lượng 700.000 tấn/năm; với 11 loại trái cây chủ lực: xoài, mít, chuối, bưởi, sầu riêng, chôm chôm, cam, quýt, thanh long, bơ, măng cụt. Đặc biệt, toàn tỉnh có 131 sản phẩm có nhãn hiệu hàng hóa; 104 đơn vị được chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP và tương đương, với 2.990 ha; có 28,2 ha cây trồng đạt chứng nhận hữu cơ. Xác lập 170 mã số vùng trồng với diện tích khoảng 27.000 ha và 86 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu đi các thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Úc, New Zealand,[2]... Đặc biệt, đã tổ chức các chuyến hàng xuất khẩu chính ngạch đầu tiên sang Trung Quốc, với 02 loại sản phẩm Chuối và Sầu riêng.

- Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại, an toàn sinh học, tổng đàn heo khoảng 2,3 triệu con, tăng 1,05%; đàn gà khoảng 22,6 triệu con, tăng 3,7%; đàn trâu, bò khoảng 111,5 nghìn con, tăng 0,5%. Nhìn chung thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi trong năm có nhiều biến động; những tháng đầu năm giá heo hơi, gà công nghiệp ở mức thấp trong thời gian dài làm thu nhập của người chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, giá heo hơi có xu hướng tăng trong thời điểm quý III/2023 đến nay.

- Tình hình nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, không xảy ra dịch bệnh trên đối tượng nuôi. Diện tích nuôi thủy sản năm 2023 là 8.672 ha, mặc dù diện tích nuôi thủy sản có giảm (-0,72% so cùng kỳ), nhưng người dân đã chủ động chuyển đổi sang phương thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh, chuyển đổi đối tượng nuôi kém hiệu quả sang đối tượng có giá trị kinh tế tăng cao, do đó tổng sản lượng thủy sản trong năm 2023 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước đạt 74,63 nghìn tấn, tăng 4,98% so với cùng kỳ.

- Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được tập trung triển khai thực hiện, công tác trồng rừng, trồng cây xanh được tập trung triển khai thực hiện, đến nay toàn tỉnh đã hoàn thành đạt 94% KH trồng cây xanh (4,350/4,645 triệu cây).

- Các mặt hàng nông sản có thị trường tiêu thụ ổn định, ngoài vấn đề chăn nuôi heo, gà gặp khó khăn trong thời gian dài do giá vật tư đầu vào tăng cao; đối với sản phẩm trái cây có nhiều tín hiệu và chuyển biến tích cực, nhất là sản phẩm chuối tươi, sầu riêng, đầu năm đến nay khoảng 60% sản lượng sầu riêng (47.500 tấn), 85% sản lượng chuối (182.000 tấn) của tỉnh được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, dự ước tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2023 đối với 02 sản phẩm là 5.750 tỷ đồng, chiếm khoảng 7,5% so với tổng giá trị của ngành (5,75/77 ngàn tỷ).

- Về nước sạch nông thôn: tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn đạt tỷ lệ 83,72%, vượt 0,22% so với chỉ tiêu nghị quyết (Trong đó tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung đạt 36,23%.

- Về xây dựng Nông thôn mới và sản phẩm OCOP: Năm 2023, có thêm 9 xã nông thôn mới nâng cao, 06 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới kiểu mẫu và 01 huyện hoàn thành nông thôn mới nâng cao, đạt và vượt chỉ tiêu nghị quyết. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 105/120 xã được công nhận đạt chuẩn NTM nâng cao, 27/120 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, 34 khu dân cư kiểu mẫu. Trong năm, có thêm 70 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP, vượt 89,2% so với kế hoạch (KH: 37 sản phẩm). Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 220 sản phẩm OCOP[3] của 120 chủ thể (22 Hợp tác xã, 39 doanh nghiệp, 52 cơ sở và 7 Tổ hợp tác) được công nhận đạt từ 3 sao trở lên (trong đó: 159 SP đạt 3 sao; 62 SP đạt 4 sao), hoàn thành vượt 13,4% chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2025 (220/194 sản phẩm).

7. Hoạt động thương mại dịch vụ, giá cả, vận tải  và du lịch

a) Hoạt động thương mại dịch vụ

Năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 262.630 tỷ đồng, tăng 12,16% so cùng kỳ, trong đó: kinh tế nhà nước ước đạt 15.623,06 tỷ đồng, tăng 12,37%; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 240.212,04 tỷ đồng, tăng 11,97%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 6.795 tỷ đồng, tăng 18,44% so với cùng kỳ

b) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá bình quân 12 tháng tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 09 nhóm hàng hoá tăng giá, tăng cao nhất nhóm Giáo dục (+7,9%); đồ dùng và dịch vụ khác(+5,08%); văn hoá, giải trí và du lịch (+3,81%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống(+3,51%); đồ uống và thuốc lá (+2,71%); thiết bị và đồ dùng gia đình(+2,52%); thuốc và dịch vụ y tế(+1,73%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+1,29%); may mặc, mũ nón và giày dép (+0,43%). Có 02 nhóm chỉ số giá giảm là giao thông giảm 2,44%; bưu chính viễn thông giảm 0,48%.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

- Kim ngạch xuất khẩu:

+ Kim ngạch xuất khẩu đạt 21.628,57 triệu USD giảm 12,08% so với cùng kỳ. Trong đó: kinh tế nhà nước đạt 466,42 triệu USD, giảm 16,42%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 5.277,4 triệu USD, giảm 8,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15.884,8 triệu USD, giảm 13,08% so cùng kỳ.

+ Thị trường xuất khẩu trong năm 2023 tập trung chủ yếu ở các nước: Hoa Kỳ đạt 6.232,4 triệu USD, chiếm 28,82%; Trung Quốc đạt 2.244 triệu USD, chiếm 10,38%; Nhật Bản đạt 2.237,6 triệu USD, chiếm 10,35%; Hàn Quốc đạt 1.210 triệu USD, chiếm 5,6%…

- Kim ngạch nhập khẩu:

+ Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 15.708,9 triệu USD, giảm 17,06% so cùng kỳ. Trong đó: Kinh tế nhà nước đạt 201,8 triệu USD, giảm 20,35%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.332,6 triệu USD, giảm 37,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13.174,5 triệu USD, giảm 11,9% so cùng kỳ.

+ Thị trường nhập khẩu trong năm 2023 chủ yếu ở các nước: Trung Quốc đạt 4.322 triệu USD, chiếm 27,52%; Hàn Quốc đạt 1.946 triệu USD, chiếm 12,4%; Nhật Bản đạt 1.124 triệu USD, chiếm 7,16%; Thị trường Mỹ đạt 1.031 triệu USD, chiếm 6,57%...

d) Hoạt động dịch vụ vận tải

Luỹ kế năm 2023, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 30.365,9 tỷ đồng, tăng 18,89% so cùng kỳ. trong đó: Dịch vụ vận tải hành khách tăng 59,01%; nhóm dịch vụ vận tải hàng hóa tăng 15,61%; nhóm dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 12,26%.

- Vận tải hành khách: Cả năm 2023, doanh thu vận tải hành khách đạt 4.089,56 tỷ đồng, tăng 59,01% so cùng kỳ. Sản lượng vận chuyển hành khách cả năm 2023 đạt 72.802 nghìn lượt hành khách, tăng 21,83% so với cùng kỳ, luân chuyển ước đạt 4.272.499 nghìn lượt hành khách.Km, tăng 33,61%, trong đó sản lượng vận chuyển đường bộ đạt 71.565 nghìn lượt hành khách, tăng 21,44%; luân chuyển đạt 4.271.809 nghìn lượt hành khách.Km, tăng 33,61% so với cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hàng hóa: doanh thu vận tải hàng hóa cả năm 2023, đạt 16.944,5 tỷ đồng, tăng 15,61% so cùng kỳ. Sản lượng vận chuyển hàng hóa cả năm 2023 đạt 75.333 nghìn tấn, tăng 8,78%, luân chuyển đạt 6.422.315 nghìn tấn.km, tăng 9,94% so với cùng kỳ, trong đó, sản lượng vận chuyển hàng hóa đường bộ là 73.505 nghìn tấn, tăng 8,77% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển hàng hóa đường bộ đạt 6.111.808 ngàn tấn.km, tăng 9,96% so với cùng kỳ.

- Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát: Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải năm 2023 đạt 9.331,8 tỷ đồng, tăng 12,26% so cùng kỳ.

đ) Bưu chính, viễn thông

Doanh thu dịch vụ bưu chính, chuyển phát năm  2023 đạt 8.917  tỷ đồng, tăng 12,26% so cùng kỳ. Thuê bao điện thọai phát triển mới cả năm 2023 đạt 968.132 thuê bao tăng 2,89% so cùng kỳ, trong đó có: 1.224 thuê bao cố định, giảm 15,93% và 966.908 thuê bao di động, tăng 2,92% so cùng kỳ. Số thuê bao Internet phát triển mới năm 2023 ước đạt 141.785 thuê bao, tăng 7,37% so với cùng kỳ.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

- Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2023 khoảng 58.109,5 tỷ đồng, đạt 94% dự toán giao và bằng 88% so với cùng kỳ, trong đó: Thu nội địa khoảng 40.498,2 tỷ đồng, đạt 101% so với dự toán giao và bằng 93% so với cùng kỳ (Nếu loại trừ thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết thì thu nội địa là 35.742,57 tỷ đồng, đạt 99% dự toán giao, bằng 98% so với cùng kỳ); Thu lĩnh vực xuất nhập khẩu trên 17.611,3 tỷ đồng, đạt 82% so dự toán giao và bằng 78% so với cùng kỳ.

- Tổng chi cân đối ngân sách địa phương năm 2023 khoảng 24.318 tỷ đồng, đạt 97% so với dự toán đầu năm, 88% so với điều chỉnh lần 1 và 87% so với với điều chỉnh lần 2, tăng 8% so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư phát triển 10.668 tỷ đồng, đạt 106% so với dự toán đầu năm, 90% so với điều chỉnh lần 1 và 88% so với với điều chỉnh lần 2, tăng 17% so với cùng kỳ; Chi thường xuyên khoảng 13.094 tỷ đồng, đạt 91% so với dự toán đầu năm, 87% so với điều chỉnh lần 1 và 88% so với với điều chỉnh lần 2, tăng 3% so với cùng kỳ.

9. Hoạt động ngân hàng

- Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 60 chi nhánh ngân hàng (của 42 ngân hàng), 233 phòng giao dịch trực thuộc (bao gồm hệ thống phòng giao dịch bưu điện) và 22 chi nhánh ngân hàng cấp 2; 34 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND); 05 chi nhánh tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP); 01 Công ty tài chính.

- Tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đến 31/12/2023 đạt 320.884 tỷ đồng, tăng 11,52% so đầu năm; Đến 31/12/2023 tổng dư nợ cấp tín dụng trên địa bàn đạt 363.540 tỷ đồng, tăng 9,12% so với đầu năm (trong đó nợ xấu ước chiếm 1,36% trên tổng dư nợ cho vay)

- Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa: Đến 31/12/2023 đạt 58.851 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16,18% so với tổng dư nợ, giảm 0,42% so với 31/12/2022.

- Dư nợ chương trình cho vay 05 lĩnh vực ưu tiên: Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2023 đạt 11.096 tỷ đồng (lãi suất 4%/năm theo Quyết định số 1125/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023).

- Về chất lượng tín dụng: đến thời điểm 31/12/2023, tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn địa bàn tiếp tục được kiểm soát ở mức dưới 2%, thấp hơn mức đề ra từ đầu năm (theo kế hoạch đầu năm phấn đấu tỷ lệ nội bảng toàn địa bàn kiểm soát ở mức dưới 3% so với tổng dư nợ cho vay).

10. Về thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2023 đến ngày 31/12/2023

Tổng nguồn vốn ngân sách năm 2023 là 14.722,45 tỷ đồng (bao gồm vốn kéo dài, không tính bội chi), giải ngân là 10.753,04 tỷ đồng đạt 73,04% kế hoạch (nếu tính theo số Thủ tướng giao kế hoạch thì tỷ lệ giải ngân đạt 90,9%), giải ngân cả năm đạt trên 90% kế hoạch, trong đó:

 - Vốn ngân sách Trung ương là 732,238 tỷ đồng, giải ngân là 730,052 tỷ đồng, đạt 99,7% kế hoạch.

- Vốn chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội là 1.256 tỷ đồng, giải ngân là 542,056 tỷ đồng đạt 43,16% kế hoạch, giải ngân cả năm đạt trên 90% kế hoạch.

- Vốn ngân sách địa phương kế hoạch giao là 12.734,213 tỷ đồng, giải ngân là 9.480,932 tỷ đồng, đạt 74,45% kế hoạch, giải ngân cả năm đạt trên 90% kế hoạch, trong đó:

+ Ngân sách tỉnh: kế hoạch giao là 7.095,221 tỷ đồng, giải ngân là 5.393,706 tỷ đồng, đạt 76,02% kế hoạch, giải ngân cả năm đạt trên 90% kế hoạch.

+ Ngân sách huyện: kế hoạch giao là 5.638,992 tỷ đồng, giải ngân là 4.087,226 tỷ đồng, đạt 72,48% kế hoạch, giải ngân cả năm đạt trên 90% kế hoạch.

- Nguồn bội chi (trái phiếu chính quyền địa phương) 1.000 tỷ đồng: UBND tỉnh có Văn bản số 5687/UBND-KTNS ngày 07/6/2023 xin ý kiến Bộ Tài chính về phương án triển khai Đề án trái phiếu chính quyền địa phương (thực hiện thủ tục về quy trình phát hành trái phiếu chính quyền địa phương trong năm 2023).

11. Thu hút Đầu tư trong nước, nước ngoài, đăng ký doanh nghiệp

Tổng vốn đầu tư trong nước đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, chủ trương đầu tư và điều chỉnh tăng, giảm vốn đến ngày 31/12/2023 (chưa bao gồm dự án trúng đấu giá) khoảng 18.485,818 tỷ đồng, gấp hơn 6,6 lần so với cùng kỳ năm 2022 (cùng kỳ năm 2022 đạt 2.778,192 tỷ đồng), trong đó: cấp mới 22 dự án (trong khu công nghiệp 14 dự án, ngoài khu công nghiệp 08 dự án) và 01 dự án được chấp thuận nhà đầu tư thông qua đấu thầu với tổng vốn đăng ký là 12.583,637 tỷ đồng (cùng kỳ năm 2022 thu hút 12 dự án với tổng vốn đăng ký là 1.217,804 tỷ đồng); có 15 dự án tăng vốn (trong khu công nghiệp 09 dự án, ngoài khu công nghiệp 06 dự án) với số vốn bổ sung là 6.251,574 tỷ đồng, 02 dự án (trong khu công nghiệp) giảm vốn với số vốn giảm là 349,393 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 31/12/2023, số dự án còn hiệu lực là 1.095 dự án với số vốn hơn 324.122 tỷ đồng.

- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến ngày 31/12/2023 đạt 1.227,5 triệu USD, tăng 6,69% so cùng kỳ, trong đó: cấp mới 80 dự án (tăng 60% so cùng kỳ) với vốn đăng ký 466,27 triệu USD (bằng 94,12% so cùng kỳ); điều chỉnh tăng vốn 94 dự án với vốn bổ sung 761,23 triệu USD (tương đương về số dự án tăng vốn và tăng 16,05% về vốn đăng ký điều chỉnh so cùng kỳ). Lũy kế đến ngày 31/12/2023, số dự án còn hiệu lực là 1.596 dự án với số vốn là 34,169 tỷ USD.

- Về công tác đăng ký doanh nghiệp: tổng vốn đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và bổ sung tăng vốn là: 68.649 tỷ đồng, trong đó có 4.052 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký khoảng 31.837 tỷ đồng và 1.194 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn bổ sung khoảng 36.812 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm 2022, bằng 97,4% về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và bằng 97 % về số vốn thành lập mới). Ngoài ra có 2.106 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh, bằng 91% so với cùng kỳ năm 2022 (2.314 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện). Lũy kế từ năm 1991 đến ngày 31/12/2023 trên địa bàn tỉnh có trên 52.765 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký 463.919 nghìn tỷ đồng.

- Về tình hình giải thể doanh nghiệp, tạm ngừng kinh doanh: từ ngày 01/12/2023 đến ngày 31/12/2023, có 67 doanh nghiệp giải thể (tăng 39,5% so với cùng kỳ) và có 303 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động (tăng 40,9% so với cùng kỳ); 95 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 14,4% so với cùng kỳ). Lũy kế đến ngày 31/12/2023, có 577 doanh nghiệp giải thể (tăng 6 % so với cùng kỳ) và có 1.079 Chi nhánh, địa điểm kinh doanh và văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động (tăng 30% so với cùng kỳ); 1.688 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh (tăng 37,7% so với cùng kỳ).

12. Công tác bảo quản lý đất đai, tài nguyên bảo vệ môi trường: Được tập trung thực hiện, tỉnh đã phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2024 của 11/11 huyện, thành phố; giao đất, cho thuê đất khoảng 269,6 ha để triển khai thực hiện các dự án và quyết định thu hồi 377,3 ha đất. Chỉ đạo các Sở, ngành và địa phương tham mưu triển khai thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp nhằm chủ động nguồn vật liệu san lấp, phục vụ các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải; triển khai đầu tư các hạng mục xử lý chất thải sinh hoạt theo quy hoạch, ban hành Đề án Quản lý chất thải rắn sinh hoạt để tổ chức thực hiện. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng môi trường tại các khu công nghiệp và tổng kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại các trang trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

13. Đối công tác quy hoạch tỉnh, quy hoạch xây dựng

- Công tác lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050: Tỉnh Đồng Nai đã hoàn thiện và trình Hội đồng thẩm định quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xem xét, thẩm định theo quy định. Hiện Hồ sơ quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Hội đồng thẩm định gửi lấy ý kiến thành viên Hội đồng theo qui định. Dự kiến trong quý I/2024, tỉnh Đồng Nai sẽ hoàn thiện các thủ tục hồ sơ để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt theo quy định.

- Đối với quy hoạch xây dựng: Các hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị, đến nay Đồng Nai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồ sơ nhiệm vụ điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng thành phố Biên Hòa, Trảng Bom; Bộ Xây dựng đã tổ chức hội nghị thẩm định nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung đô thị mới Nhơn Trạch và hồ sơ Nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Long Thành, hiện tỉnh Đồng Nai đang hoàn thiện hồ sơ để trình Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

14. Chương trình phục hồi phát triển kinh tế, các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh được các Sở, ngành và địa phương của tỉnh chú trọng thực hiện, kết quả: Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã tổ chức thu nợ và giải ngân quay vòng, dư nợ 04 chương trình cho vay theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ đạt 232,834 tỷ đồng; Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh hỗ trợ lãi suất 12,935 tỷ đồng cho 62 khách hàng theo Nghị định số 31/2022/NĐ-CP của Chính phủ. Tỉnh ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan đơn vị để triển khai thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình, kết quả trong năm 2023, tỷ lệ giải ngân của 03 Chương trình đạt 103% kế hoạch năm.

15. Các hoạt động hợp tác quốc tế

- Ký kết 38 Bản Ghi nhớ, Bản Thỏa thuận quốc tế (gọi tắt là MOU) cấp tỉnh lần đầu tiên với 12 quốc gia trên thế giới (gồm: Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Campuchia, Lào, Pháp, Nhật, Thái Lan, Ukraina, Israel, Bỉ, Đức) và thực hiện 13 Bản tái ký kết; Có 52 Bản Thỏa thuận quốc tế ký kết cấp sở, ngành.

- Hợp tác hữu nghị với các vùng, địa phương nước ngoài: Hàn Quốc, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Cuba, Indonesia.

- Dự Hội nghị hợp tác giữa các địa phương Việt Nam và Pháp lần thứ 12, do UBND thành phố Hà Nội và Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội; Đoàn Lãnh đạo tỉnh đi xúc tiến thương mại tại Ấn Độ; Sự kiện “Gặp gỡ Nhật Bản năm 2023” tại Hà Nội; Diễn đàn Kinh tế xanh tại Hà Nội; tham dự các các Hội thảo, Diễn đàn, Hội nghị về lĩnh vực hợp tác kinh tế, hợp tác đầu tư do Bộ Ngoại giao.

16. Tình hình hoạt động của Hiệp hội

- Đã tham gia đóng góp dự thảo các Luật Đất đai (sửa đổi); Luật Giao dịch Thương mại điện tử (sửa đổi); dự thảo Quy hoạch tỉnh Đồng nai giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2045; góp ý Chương trình hành độnh xuất nhập khẩu đến năm 2023; Phương án phát triền công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến 2045.

- Tuyên truyền đến các doanh nghiệp thông tin về chủ trương chính sách của Nhà nước để doanh nghiệp thực hiện; triển khai nhanh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến cộng đồng Doanh nghiệp; thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động và nắm bắt khó khăn của của Doanh nghiệp để có những phản ảnh kịp thời đến các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan.

17. Về lĩnh vực Hải quan

- Ban hành 24 văn bản triển khai, hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo các cấp liên quan trong công tác nghiệp vụ nói riêng và công tác quản lý hải quan nói chung đến toàn thể CBCC tại các đơn vị thuộc và trực thuộc cũng như đến toàn thể doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn quản lý.

- Ban hành 21 văn bản đóng góp ý kiến, xây dựng hoàn thiện các Dự thảo văn bản, chính sách pháp luật. Chủ động nâng cao chất lượng công tác đóng góp ý kiến, xây dựng hoàn thiện văn bản, chính sách pháp luật. Chấp hành trình tự, thủ tục, đánh giá tác động các chính sách mới, tác động của Dự thảo để đóng góp ý kiến thực chất, phù hợp yêu cầu quản lý chung toàn ngành và đặc thù quản lý của đơn vị. Rà soát, hệ thống hóa, đề xuất hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật, tránh chồng chéo, trùng lắp. Kiến nghị xử lý các văn bản chồng chéo, trùng lắp; đề xuất sửa đổi bổ sung kịp thời các văn bản quy định chưa đáp ứng yêu cầu quản lý, chưa phù hợp với thực tiễn.

- Chủ động tích cực tuyên truyền đến cộng đồng doanh nghiệp các văn bản cốt lõi về thủ tục hải quan, thủ tục thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu đảm bảo tạo thuận lợi doanh nghiệp và tuân thủ các quy định của pháp luật.

- Triển khai rộng và vận hành hiệu quả đến cộng đồng doanh nghiệp Hệ thống trao đổi thông tin Hải quan - Doanh nghiệp DNa-Customs Info trực tuyến do Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai đầu tư xây dựng và vận hành thường trú trên website của đơn vị. Luỹ kế đến ngày 15/11/2023 đã xử lý 1.370 câu hỏi vướng mắc của doanh nghiệp và hơn 63.642 văn bản đã được tiếp nhận xử lý thông qua hệ thống với số lượng doanh nghiệp tham gia là 2.826 doanh nghiệp trao đổi thông tin qua lại hai chiều.

- Đăng tải 125 văn bản pháp luật quan trọng trên website điện tử của đơn vị và 2.482 văn bản được đăng tải trên webste nội bộ.

- Thực hiện công tác tuyên truyền, giải đáp vướng mắc của doanh nghiệp thông qua chuyên mục “Hải quan tỉnh Đồng Nai đồng hành cùng doanh nghiệp” trên báo Đồng Nai (12 kỳ), báo Bình Thuận (12 kỳ).

II. Chính sách an sinh xã hội

- Thực hiện Quyết định số 122/QĐ-UBND ngày 19/01/2023 về việc chăm lo, hỗ trợ người lao động bị mất việc, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong dịp Tết Nguyên đán: Kết quả, UBND các huyện, thành phố đã ban hành quyết định phê duyệt hồ sơ của 9.764 lao động với tổng số tiền hỗ trợ hơn 14,646 tỷ đồng.

- Làm đầu mối kết nối các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh (chủ yếu trong lĩnh vực dệt may) dẫn đến phải giảm lao động với các doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng để chuyển giao lao động, hạn chế tình trạng mất việc của người lao động. Kết quả đã kết nối được hơn 70 doanh nghiệp tuyển dụng được khoảng 5.000 lao động.

- Tình hình quan hệ lao động: Tính đến thời điểm báo cáo, các ngành chức năng, UBND các huyện, thành phố của tỉnh đã giải quyết 10 vụ tranh chấp lao động tập thể, đình công với sự tham gia của 1.282/5.332 lao động. Kết quả sau khi làm việc với các ngành chức năng, UBND các huyện, thành phố của tỉnh và được tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến các quy định của pháp luật, các doanh nghiệp đã nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về quyền và có cải thiện đáp ứng cơ bản các yêu cầu về lợi ích của người lao động; đồng thời, sau khi được tuyên truyền vận động phần lớn người lao động đã hiểu, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và đã quay trở lại làm việc bình thường.

- Tổ chức 15 sàn giao dịch việc làm (đạt 100% kế hoạch năm) với sự tham gia của 326 lượt doanh nghiệp và 5.320 lượt người lao động.

- Giải quyết việc làm cho 80.292 lượt người (đạt 100,37% kế hoạch năm, giảm 0,95% so với cùng kỳ năm 2022).

- Tư vấn hướng nghiệp cho 143 học viên và tư vấn việc làm cho 238 học viên cai nghiện ma túy tại Cơ sở Điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.

- Tiếp nhận, kiểm tra, hướng dẫn cấp 38 giấy xác nhận đăng ký hợp đồng lao động trực tiếp giao kết với người sử dụng lao động; Giới thiệu 08 doanh nghiệp có chức năng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để giới thiệu và tuyển chọn lao động; Tổ chức đăng ký dự thi tiếng Hàn theo Chương trình EPS năm 2023 cho 145 người lao động; phối hợp Đài Phát thanh và Truyền hình Đồng Nai và Đài truyền thanh các huyện, thành phố thông báo các thông tin tuyển chọn đi làm việc tại CHLB Đức, Nhật Bản…

III. Bảo đảm an ninh, quốc phòng

- Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư và hoạt động cho các doanh nghiệp.

- Triển khai thực hiện các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự tại các Khu công nghiệp; Kế hoạch nắm tình hình, phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động của tổ chức Phong trào Lao động Việt tại các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch thực hiện Quy chế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự địa bàn giáp ranh giữa Công an 07 tỉnh, thành phố giáp ranh; Kế hoạch công tác phòng chống khủng bố; Kế hoạch công tác Công an thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/CP của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh; Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TU ngày 20/7/2017 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”.

- Chỉ đạo giải quyết những vấn đề nổi cộm liên quan đến đời sống kinh tế như buôn lậu, tín dụng đen, hoạt động gian lận thương mại, gian lận xuất xứ hàng hóa; các mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện, đình công, lãn công. Tập trung kiểm tra phòng ngừa, đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng hoạt động trên không gian mạng để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước. Qua đó, góp phần bảo đảm ANQG và TTATXH trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

- Đẩy mạnh các hoạt động phong trào Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, khu nhà trọ công nhân nhằm huy động sức mạnh tổng hợp trong công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm; vận động quần chúng tích cực tham gia phong trào tấn công tội phạm, tố giác tội phạm; đổi mới công tác tuyên truyền nâng cao giáo dục pháp luật, nhất là giáo dục đạo đức, ý thức chấp hành pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động góp phần phòng ngừa đảm bảo ANQG và giữ gìn TTATXH trên địa bàn tỉnh.

IV. Công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

- Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 31/31 khu công nghiệp đã có trạm xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường, tỷ lệ 100% so với chỉ tiêu Nghị quyết.

- Có 27/31 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đủ nước để vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đã lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường theo dõi, giám sát.

- Ủy ban nhân dân 11 huyện, thành phố đã triển khai thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn toàn huyện, thành phố, trong đó 160 xã, phường, thị trấn, có 333.162 hộ dân thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn theo hướng dẫn, tỷ lệ đạt 41,3% số hộ dân toàn tỉnh. 11 huyện, thành phố đã bố trí 689 điểm thu hồi chất thải nguy hại trong sinh hoạt tại 132 xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 1.555 bể thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật. Các nhóm chất thải này được UBND cấp huyện hợp đồng với các đơn vị được cấp phép xử lý chất thải nguy hại xử lý tiêu hủy tại các lò đốt chuyên dụng.

 

B. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NĂM 2023

I. Đánh giá chung

Tình hình kinh tế của Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung chịu ảnh hưởng tác động nặng nề của tình hình kinh tế thế giới và khu vực: những xung đột về chính trị giữa Ukraine và Nga chưa có dấu hiệu cải thiện; các nền kinh tế lớn đang có dấu hiệu suy giảm tăng trưởng, lạm phát duy trì mức cao trên toàn câu; chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất kéo dài kèm theo mất giá trị đồng tiền, giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng tại nhiều khu vực và quốc gia làm suy giảm sản xuất của nhiều ngành, lĩnh vực; thị trường bất động sản ở nhiều nước gặp khó khăn hơn; khu vực doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, thất nghiệp gia tăng dẫn đến nguy cơ bất ổn xã hội và chính trị ở một số nước... một số quốc gia có dấu hiệu rơi vào suy thoái kinh tế như Anh, Mỹ, Đức, Italia, Trung Quốc... Nguy cơ mát thanh khoản, rủi ro, bất ổn về tài chính, tiền tệ, nợ công, an ninh năng lượng, an ninh lương thực trên toàn cầu gia tăng... tác động mạnh, kéo dài, trên phạm vi lớn tới hầu hết các quốc gia, nền kinh tế.Những ảnh hưởng bất lợi nêu trên đã tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp, đơn hàng sản xuất của doanh nghiệp bị sụt giảm mạnh, chỉ số tồn kho xu hướng gia tăng, tình trạng thiếu việc làm diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thuộc vào các ngành có sử dụng nhiều lao động trên phạm vi cả nước nói chung và tinh Đồng Nai nói riêng. Do đó, một số chỉ tiêu về kinh tế không đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra.

1. Thuận lợi

- Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đối với công tác phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế trên địa bàn tỉnh thông tin truyền thông, chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư trong thời gian qua, tỉnh đã nỗ lực triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả khả quan, tạo cho các doanh nghiệp có cơ hội giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm cơ hội hợp tác, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hợp tác đầu tư kinh doanh phát triển thị trường, gia tăng sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa với thị trường trong nước cũng như Quốc tế.

- Công tác báo chí, truyền thông luôn được chú trọng và được sự quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở luôn bám sát các định hướng của
tỉnh để thông tin tuyên truyền được chính xác, hiệu quả. Bên cạnh đó còn
phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực,
góp phần tạo sự đồng thuận, tạo niềm tin xã hội.

- Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Chính phủ, Chỉ thị, Nghị quyết Tỉnh ủy, UBND tỉnh về phát triển kinh tế đất nước nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng. Chủ động trong công quản lý Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế; các cơ quan quản lý Nhà nước phối hợp chặt chẽ trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, góp phần bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo phát triển kinh tế và an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.

- Tổ chức thành công hội thảo quốc tế về Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ”VietNam International Digital Hub” với sự tham gia của các nhà đầu tư, tập đoàn trong lĩnh vực hạ tầng trung tâm dữ liệu, BigData, AI và Iot... Qua buổi hội thảo các nhà đầu tư trong, ngoài nước nhận thấy Đồng Nai có nhiều lợi thế cũng như tiềm năng để có thể đầu tư phát triển Digital Hub trong tương lai.

2. Những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân

a) Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh

- Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên năm 2023, doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh; nhiều doanh nghiệp phải giảm giờ làm do thiếu đơn hàng; doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng gặp khó khăn trong việc duy trì đơn hàng xuất khẩu, đã ảnh hưởng nhiều đến kim ngạch xuất khẩu.

- Một số quy định về thủ tục hành chính và hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ nên ít doanh nghiệp tiếp cận được các chính sách hỗ trợ của nhà nước như gói hỗ trợ tín dụng theo Nghị định 31/2022/NĐ-CP.

- Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Nga – Ucraina nên tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, giá nguyên vật liệu tăng cao, thị trường xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn; nhất là từ giữa quý 3/2022, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu bị đứt đơn hàng, một số doanh nghiệp phải giảm thời gian lao động hoặc tạm thời cho công nhân ngưng việc tạm thời; đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống người lao động. Nguồn nhiên liệu xăng dầu thế giới có nhiều biến động, từ đó dẫn đến việc cung ứng nhiên liệu xăng dầu cho nền kinh tế bị biến động, thiếu hụt. Trong khi đó, các chính sách hỗ trợ cho lĩnh vực xăng dầu chưa được Nhà nước quan tâm; các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu phải kinh doanh trong tình hình chiết khấu bằng 0 đ kéo dài từ đầu năm 2022 đến nay.

- Các quy định của pháp luật còn nhiều chồng chéo hoặc có những quy định cũng gây không ít khó khăn cho Doanh nghiệp; nổi cộm hiện nay là quy định về phòng cháy chữa cháy theo Nghị định 136/2020/NĐ-CP, theo phản ảnh của Doanh nghiệp, do các quy định mới theo Nghị định 136/2020/NĐ-CP có những quy định gây khó khăn cho Doanh nghiệp vì phải xây dựng lại phương án PCCC theo quy định mới và phải tính toán lại chi phí tuân thủ khá cao đã gây nhiều khó khăn cho Doanh nghiệp …

b) Ngành Công an

- Việc trao đổi thông tin, tài liệu theo nội dung quy chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng có lúc chưa kịp thời dẫn đến chậm trễ trong việc phát hiện, đấu tranh với các hoạt động phạm tội trên lĩnh vực an ninh kinh tế.

- Các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng những sơ hở thiếu sót của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề nhạy cảm trong xã hội như chống tiêu cực tham nhũng, vấn đề ô nhiễm môi trường để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước kích động, xúi giục người lao động trong các khu công nghiệp tổ chức, tham gia đình công, biểu tình chống các chính sách của Đảng và nhà nước.

c) Lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội

- Việc kết nối cung cầu lao động giữa người lao động bị mất việc làm với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng khác còn bị động và chưa phát huy hiệu quả cao.

- Hoạt động xuất khẩu lao động là một hướng đi quan trọng nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo cho người lao động nhưng chưa được người lao động quan tâm đúng mức nên số lượng tham gia xuất khẩu lao động còn chưa cao.

- Số lượng lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chưa tăng, tỷ lệ thấp so với cả nước.

d) Lĩnh vực Xây dựng

- Một số dự án nhà ở xã hội đang triển khai chậm tiến độ (do điều chỉnh quy hoạch 1/500 cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, do ảnh hưởng “bão giá” VLXD, do tiêu thụ sản phẩm chậm,...); Đối với quỹ đất kêu gọi đầu tư nhà ở xã hội còn gặp khó khăn trong việc lập, trình thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, một số hồ sơ UBND huyện chưa đủ cơ sở lập hồ sơ, hoặc phải thẩm định nhiều lần hoặc đã thẩm định xong nhưng chưa đủ cơ sở trình phê duyệt do một số nguyên nhân: Nhiều hồ sơ do UBND các địa phương lập chưa đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về đầu tư và nhà ở; Quỹ đất 20% một số địa phương đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật nhưng chưa hoàn thành việc nhận bàn giao từ chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại.

- Công tác quy hoạch xây dựng còn chậm nên chưa thu hút kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh: Tiến độ lập, thẩm định phê duyệt quy hoạch chung các đô thị còn chậm chưa thực hiện đúng theo tiến độ quy định cụ thể: Quy hoạch chung đô thị Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom. Quy hoạch phân khu Biên Hòa, Nhơn Trạch chưa triển khai kịp theo đúng thời gian quy định do vướng điều chỉnh quy hoạch cấp trên. Việc ban hành quy chế Quản lý Quy hoạch Kiến trúc đô thị - nông thôn chưa thực hiện theo kế hoạch do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ quan thẩm định chi phí lập quy chế. Việc lập trình phê duyệt các Nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom còn chậm do UBND các huyện tổ chức lập quy hoạch còn chậm trong thực hiện các thủ tục.

- Các địa phương chưa thực sự quan tâm, sát sao đến các nhiệm vụ mang tính chiến lược dài hạn như công tác phát triển đô thị, chống ngập úng và tính chủ động chưa cao, công tác phối hợp của các địa phương chưa còn chậm trễ, chưa tích cực dẫn đến không thể giải quyết, xử lý kịp thời, toàn diện, hiệu quả không cao.

đ) Lĩnh vực thuế: Chính sách thuế thường xuyên sửa đổi, bổ sung, nhu cầu tư vấn của người nộp thuế ngày càng tăng, tuy nhiên cán bộ làm công tác tuyên truyền hỗ trợ chưa  được tập huấn chính sách thuế kịp thời, chủ yếu tự nghiên cứu, do đó chất lượng công tác tuyên truyền, hỗ trợ chưa cao.

e) Chương trình Xúc tiến thương mại: Kết nối tiêu thụ sản phẩm nông, công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp, HTX, trang trại đa số có quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng.

g) Ban Quản lý Các Khu công nghiệp tỉnh: Quỹ đất công nghiệp còn lại sẵn sàng cho nhà đầu tư thuê không còn nhiều, do một phần còn vướng bồi thường giải tỏa, một phần chưa hoàn tất các thủ tục pháp lý triển khai đầu tư hạ tầng kỹ thuật (diện tích đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê còn lại rất hạn chế). Trong thời gian vừa qua, một số Tập đoàn lớn sử dụng công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại, và có nhu cầu đầu tư vào tỉnh, tuy nhiên không còn quỹ đất để bố trí, giới thiệu cho các nhà đầu tư.

C. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NĂM 2024

I. Dự báo tình hình chính trị, an ninh, kinh tế quốc tế và khu vực năm 2024

- Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới; đến nay, Việt Nam đã ký kết 18 FTA khu vực và song phương, đây là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, vì hàng hóa của Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn khi xuất khẩu vào thị trường các nước đã ký kết tham gia FTA và cũng đầy thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam, vì phải cạnh tranh trên toàn cầu và phải nổ lực cạnh tranh ngay trên thị trường nội dịa vì hàng hóa của các nước đã ký FTA với Việt Nam cũng có nhiều cơ hội thâm nhập sâu vào thị trường Việt Nam.

- Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có có những diễn biến phức tạp; bất ổn về chính trị, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố quốc tế, chiến tranh Nga - Ukraine…; tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, lợi ích ngày càng gay gắt, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thiên tai, dịch bệnh vẫn còn những nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng.

- Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, và cũng do ảnh hưởng của một số cuộc chiến tranh giữa Nga - Ucraina, giữa Israel và tổ chức Hamas (Palestine) đã làm đứt gảy các chuổi cung ứng nguyên vật liệu, chuổi cung ứng hàng hóa mang tính toàn cầu làm giá cả nguyên vật liệu tăng cao gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu. Nhất là nguồn năng lượng hóa thạch đã có nhiều biến động tăng giảm liên tục, nguồi cung bị gián đoạn (do Mỹ và các nước Châu Âu phong tỏa nguồn dầu thô của Nga) nên đã gây không ít khó khăn trong việc đảm bảo nhiên liệu cho vận chuyển và phục vụ phát triển kinh tế, dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng, tình trạng một số doanh nghiệp FDI nợ thuế, nợ bảo hiểm với số tiền lớn không có khả năng chi trả, chủ doanh nghiệp bỏ trốn gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân và người lao động dễ dẫn đến đình công, gây mất an ninh trật tự tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

- Từ quý III năm 2022 đến nay, do ảnh hưởng của lạm phát nên nhiều nước nhập khẩu hàng từ Việt Nam đã cắt hoặc giảm đơn hàng đã làm cho nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến Gỗ, đệt may, da giày phải giảm sản xuất; giảm lao động …Việc này có thể sẽ kéo dài ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2023 - 2024.

- Nguy cơ xảy ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu rất cao, nguồn nguyên phụ liệu, xăng dầu thiếu hụt và các mặt hàng thiết yếu đồng loạt tăng giá ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn do thiếu nguyên liệu đầu vào, đơn hàng bị cắt giảm, hàng thành phẩm tiếp tục tồn kho do không xuất khẩu được, giá xăng dầu tăng cao, cước phí vận chuyển tăng…nếu không có hướng xử lý, khắc phục và linh hoạt trong tình hình diễn biến của thế giới sẽ dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, tạm ngưng hoạt động, phải cắt giảm lao động; đời sống của người lao động sẽ bị ảnh hưởng nặng nề do thu nhập bị cắt giảm và tình trạng mất việc làm gia tăng, dẫn đến tình hình tội phạm có thể gia tăng, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

II. Nhiệm vụ cụ thể

1. Công tác thông tin, tuyên truyền

- Thông tin về Hiệp định và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác để cung cấp thông tin, hướng dẫn và làm rõ các nội dung cam kết và các vấn đề có liên quan đến các FTA mà Việt Nam tham gia đến doanh nghiệp và toàn thể người dân.

- Tiếp tục tham mưu thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc phòng - an ninh năm 2024 của tỉnh Đồng Nai.

- Đẩy mạnh triển khai các công nghệ số, chuyển đổi số thúc đẩy phát triển
xã hội số trên địa bàn tỉnh, trong đó ưu tiên thúc đẩy sử dụng các nền tảng số
phục vụ nhu cầu thiết yêu của người dân và đẩy mạnh thanh toán không tiền mặt.

- Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Kế hoạch số 45/KH-UBND về
thực hiện đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030.

- Tiếp tục thực hiện các lớp tập huấn, hội thảo, hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng nâng cao kiến thức hội nhập quốc tế.

2. Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại

a) Hoạt động xúc tiến đầu tư

- Tiếp tục tham mưu UBND tỉnh định hướng về ưu tiên thu hút đầu tư các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện tại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; chú trọng thu hút các dự án lớn, các dự án của các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở và thành lập các cơ quan, trung tâm nghiên cứu – phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo tại tỉnh Đồng Nai gắn với việc đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

- Tham mưu UBND tỉnh tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tìm cơ hội đầu tư vào tất cả các ngành nghề phù hợp các cam kết của Chính phủ đối với quốc tế.

- Quản lý và kiểm soát chặt chẽ việc thu hút các dự án đầu tư mới, không cấp phép cho các dự án đầu tư sử dụng hoặc đưa công nghệ và thiết bị lạc hậu có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc làm giảm tính cạnh tranh, làm chậm tốc độ phát triển và hội nhập của nền kinh tế tỉnh. Tập trung thu hút các dự án phù hợp định hướng thu hút đầu tư của tỉnh, dự án công nghiệp hỗ trợ, công nghệ sạch, tiến tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường. Xem mục tiêu cải thiện, bảo vệ môi trường đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xúc tiến đầu tư, đặc biệt là công tác xúc tiến đầu tư tại chỗ.

b) Hoạt động xúc tiến thương mại

- Hội chợ triển lãm, giao thương nước ngoài: Tổ chức Đoàn công tác giao thương của tỉnh đi xúc tiến thương mại tại thị trường Nhật Bản; Tổ chức gian hàng chung tỉnh Đồng Nai tham Hội chợ tại Lào; Tổ chức Đoàn khảo sát thị trường nông sản tại các Chợ đầu mối tại Trung Quốc.

- Hội nghị kết nối cung cầu trong nước: Tổ chức hội nghị phổ biến chương trình xúc tiến thương mại; Tổ chức hội nghị Kết nối giao thương giữa doanh nghiệp Đồng Nai với nhà cung cấp của tỉnh, thành miền Bắc, miền Trung, phía Nam; Tổ chức Hội nghị kết nối cung - cầu tại thành phố Hồ Chí Minh; Tổ chức kết nối giao thương giữa tổ hợp tác, HTX; tiểu thương chợ truyền thống trên địa bàn các huyện, thành phố với chợ Đầu mối Nông sản Dầu Giây; Tổ chức hội nghị Kết nối giao thương giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp từ các tỉnh, thành với hệ thống phân phối của Đồng Nai.

- Chương trình người Việt nam ưu tiên dùng hàng Việt nam: Xây dựng và duy trì điểm bán hàng “Tự hào hàng Việt”; Xây dựng và duy trì “Điểm giới thiệu và bán sản phẩm OCOP”; Tổ chức chuyến hàng Việt về các khu công nghiệp và nhà máy phục vụ công nhân sau giờ tan ca; Tổ chức Phiên chợ công nhân; Tổ chức Phiên chợ hàng Việt về nông thôn; Tổ chức Tuần hàng Việt Nam.

- Hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh: Hỗ trợ kinh phí các Hiệp hội, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có mặt hàng các sản phẩm chủ lực của tỉnh Đồng Nai tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh; Tổ chức gian hàng chung cho các doanh nghiêp trên địa bàn tỉnh tham gia 12 đợt Hội chợ trong và ngoài tỉnh.

- Thường trực Ban Chỉ đạo chủ trì khảo sát chợ đầu mối tại Bằng Tường và Nam Ninh thuộc Quảng Tây – Trung Quốc nằm sát biên giới Việt Nam và giáp với tỉnh Lạng Sơn qua cửa khẩu Hữu Nghị nhằm:

(1) Kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh vào thị trường Trung Quốc (do đây là nơi tập trung các sản phẩm trước khi vào thị trường nội địa Trung Quốc.

- Làm việc tại Kho Ngoại Quan tại Bằng Tường, tìm hiểu chính sách thu hút đầu tư thương mại của Khu mậu dịch tự do và Khu Công Nghiệp tại tỉnh Quảng Tây.

- Tham quan Khu Thương mại và Dịch vụ hậu cần Trái cây tại Bằng Tường.

- Tham quan Khu chợ bán buôn trái cây lớn nhất Nam Ninh.

- Tham quan mô hình bán hàng online tại Nam Ninh hoặc gặp mặt Trung tâm xúc tiến thương mại Thành phố Nam Ninh.

(2) Kết nối doanh nghiệp để thuê điểm kinh doanh hoặc hợp tác với doanh nghiệp tại chợ để nắm thông tin thị trường về giá cả, sản lượng, tại các chợ giáp đường biên...

3. Các hoạt động hợp tác quốc tế

- Tiếp tục quản lý hiệu quả cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh đi nước ngoài và tổ chức, cá nhân nước ngoài vào làm việc tại tỉnh theo Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 21/7/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường quản lý các đoàn đi công tác nước ngoài, Thông tri của Tỉnh ủy Đồng Nai.

- Ban hành Quyết định về Đoàn ra, đoàn vào; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục triển khai thực hiện các nội dung hợp tác kinh tế, hợp tác hữu nghị với các địa phương, đối tác nước ngoài đã ký kết.

- Cập nhật tiềm năng của tỉnh Đồng Nai để giới thiệu với các đối tác, doanh nghiệp nước ngoài về danh mục và các lĩnh vực định hướng thu hút đầu tư. Hỗ trợ và trao đổi thông tin hai chiều để vận động các doanh nghiệp địa phương nước ngoài tham gia các chương trình phi chính phủ nước ngoài và đóng góp các hoạt động xã hội, cộng đồng tại địa phương góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh.

4. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp

a) Lĩnh vực Công nghiệp – thương mại

- Chỉ số sản xuất công nghiệp phấn đấu tăng 7,0% so với năm 2023.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ phấn đấu tăng 8,0% so với năm 2023.

- Kim ngạch xuất khẩu phấn đấu tăng 8,0% so với năm 2023.

- Kim ngạch nhập khẩu phấn đấu tăng 5,0% so với năm 2023.

b) Lĩnh vực ngân hàng

- Tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế đến cuối năm tăng 14% - 16% so với 31/12/2023 và có điều chỉnh theo chỉ tiêu chung của NHNN Việt Nam.

- Chất lượng tín dụng: Tỷ lệ nợ xấu (dư nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5) phấn đấu dưới 3%.

c) Lĩnh vực khoa học công nghệ

- Triển khai hoạt động áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2025.

- Tiếp tục triển khai “Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”; Đề án “Tăng cường đổi mới hoạt động đo lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.

- Tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ doanh nghiệp theo Nghị quyết số 30/2022/NQ-HĐND ngày 10/12/2022 và Nghị quyết số 17/2023/NQ-HĐND ngày 29/9/2023.

- Thực hiện hỗ trợ các đơn vị đăng ký tham gia chương trình hỗ trợ về năng suất chất lượng, bảo hộ tài sản trí tuệ và triển khai thực hiện hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu chứng nhận/tập thể cho các sản phẩm đặc thù trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2024.

- Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam.

- Tổ chức “Chợ công nghệ - Thiết bị và Thương mại tỉnh Đồng Nai năm 2024 - Techmart Dong Nai 2024”.

d) Lĩnh vực xây dựng

- Chỉ tiêu hoàn thành và đưa vào sử dụng nhà ở xã hội đạt 715 căn.

- Chỉ tiêu về tỷ lệ dân cư sử dụng nước sạch tại đô thị đạt 89 %.

- Tham mưu các chính sách hỗ trợ đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nâng cao chất lượng nhà ở để đáp ứng cho người thu nhập thấp, công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất có cơ hội tiếp cận, cải thiện nhà ở; công khai, giới thiệu quỹ đất đầu tư nhà ở xã hội cho các doanh nghiệp để nghiên cứu, đề xuất đầu tư; Đa dạng hóa các phương thức đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho những đối tượng thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định, chủ yếu sử dụng vốn ngoài ngân sách.

- Ban hành Quy định về đánh giá tuyến phố văn minh đô thị; ban hành Quyết định triển khai thực hiện Nghị quyết quy định mức hỗ trợ chi phí hỏa táng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2024-2026; Đôn đốc các đơn vị, chủ đầu tư thực hiện các giải pháp chống ngập, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án chống ngập trên địa bàn tỉnh; đẩy nhanh đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng các hệ thống công trình cấp nước sạch, nâng cao tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy, có lộ trình giảm dần việc sử dụng nước ngầm.

- Lập chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh, chương trình phát triển đô thị của từng đô thi sau khi Quy hoạch tỉnh được duyệt; trình duyệt Chương trình phát triển đô thị thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc giai đoạn đến 2030.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý xây dựng đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng và quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh.

đ) Lĩnh vực nông nghiệp

- Triển khai hiệu quả cơ chế, chính sách phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong triển khai thực hiện xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP).

- Triển khai hỗ trợ các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm nông sản.

- Hỗ trợ thúc đẩy phát triển các hình thức hợp tác sản xuất liên kết, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

- Phát triển mạnh khoa học, công nghệ và khuyến nông; hỗ trợ xây dựng vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu và xây dựng sản phẩm OCOP.

- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo và bố trí sử dụng hợp lý cán bộ chuyên môn kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm; đào tạo người sản xuất theo hướng gắn với sản xuất mô hình, trang trại, doanh nghiệp; đồng thời, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn gắn với nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp, hợp tác xã, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động khu vực nông thôn.

e) Lĩnh vực Giao thông – Vận tải

- Tiếp tục phối hợp đẩy nhanh tiến độ dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành và 02 tuyến giao thông kết nối tuyến số 1 và số 2.

- Đẩy nhanh tiến độ thi công 02 dự án giao thông trọng điểm của tỉnh là cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu (thành phần 1) và đường Vành đai 3 – TP. HCM (đoạn 1).

- Hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng các dự án giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Biên Hòa và các dự án giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh.

- Triển khai các dự án giao thông quan trọng kết nối sân bay quốc Long Thành và liên kết vùng như: ĐT.773, ĐT.770B, ĐT.769 và tuyến Vành đai 4 – TP. HCM.

- Phối hợp đẩy nhanh tiến độ thi công cao tốc Bến Lức – Long Thành, khởi công dự án cao tốc Dầu Giây – Tân Phú, cao tốc Tân Phú – Bảo Lộc; tiếp tục phối hợp triển khai mở rộng cao tốc TP. HCM – Long Thành – Dầu Giây.

- Tiếp tục phối hợp triển khai đầu tư xây dựng tuyến đường sắt nhẹ Thủ Thiêm – sân bay Long Thành, đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu.

5. Tình hình hoạt động của Hiệp hội

- Tiếp tục tuyên truyền đến cộng đồng Doanh nghiệp các quy định về Hiệp định EVFTA; RCEP; UKVFTA; Tuyên truyền phổ biến pháp luật, chính sách nhà nước có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tiếp tục triển khai các Nghị quyết của Chính phủ về Hỗ trợ và phát triển Doanh nghiệp.

- Triển khai Chương trình khảo sát đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở ngành và các huyện, thành phố (DDCI) theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

- Tổ chức các Hội nghị vể chuyển đổi kinh tế xanh; Hội nghị chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

- Vận động việc liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ giữa các thành viên trong các Hội và Hiệp hội.

6. Lĩnh vực Hải quan

- Tiếp tục triển khai thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch… góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên địa bàn tỉnh.

- Quyết liệt triển khai các giải pháp, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2024.

- Tăng cường kiểm soát, đấu tranh các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trên tất cả các tuyến, địa bàn, các khâu/bước nghiệp vụ. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, các đơn vị hải quan tỉnh bạn triển khai hiệu quả kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, buôn lậu, ma túy năm 2024.

- Tập trung  công tác xây dựng lực lượng, tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị; thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ.

7. Lĩnh vực Thuế

- Tiếp nhận, xử lý và giải quyết hồ sơ tại bộ phận một cửa, đồng thời kiểm tra và hoàn thành quy trình kết thúc hồ sơ trên hệ thống quản lý tập trung TMS theo đúng quy định.

- Duy trì công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT qua các hình thức tư vấn qua điện thoại; trả lời bằng văn bản, trả lời tại các trang điện tử cửa cơ quan thuế.

- Tuyên truyền các chính sách thuế mới, các văn bản hướng dẫn trên bảng điện tử đặt tại Văn phòng Cục.

-  Hướng dẫn NNT quyết toán thuế TNDN, TNCN năm 2023.

- Triển khai ứng dụng thuế điện tử qua điện thoại (etax mobile) cho NNT.

- Triển khai chính sách thuế mới liên quan qua bản tin hàng tháng qua email, zalo, trang web của Cục Thuế tỉnh.

- Tăng cường triển khai ứng dụng Etax Mobile đến người nộp thuế; hướng dẫn, tuyên truyền, khuyến khích NNT sử dụng ứng dụng; bố trí nhân sự hỗ trợ cho NNT đảm bảo việc triển khai được hiệu quả.

- Tiếp tục tăng cường đẩy mạnh tuyên truyền cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện đăng ký áp dụng Chương trình “Hóa đơn may mắn” và “Hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền”.

III. Chính sách an sinh xã hội

- Tổ chức 12 - 15 Hội nghị tuyên truyền pháp luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, ATVSLĐ, việc làm, xuất khẩu lao động cho người lao động và người sử dụng lao động tại các doanh nghiệp.

- Tổ chức Sàn giao dịch việc làm định kỳ hàng tháng và tổ chức điều tra thông tin thị trường lao động theo Thông tư số 01/2022/TT-BLĐTBXH ngày 25/01/2022 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Thực hiện hỗ trợ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng trên địa bàn tỉnh theo quy định.

- Ban hành Nghị quyết Hỗ trợ vốn vay cho người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài và thực hiện tố công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách có liên quan đến đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

- Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất thuộc Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành”.

- Tiếp tục phối hợp Tổ chức quốc tế như Giz-Đức về việc hỗ trợ định hướng phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2020 - 2023 trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao năm 2023 và các năm tiếp theo.

IV. Bảo đảm an ninh, quốc phòng

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Đề án đảm bảo an ninh quốc phòng phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế.

- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ANQG trên lĩnh vực an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh mạng…, đấu tranh chống địch phá hoại đường lối, chính sách kinh tế, dùng kinh tế chuyển hóa chính trị. Triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ nắm tình hình, tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, thuế, bảo hiểm…. kịp thời phát hiện dấu hiệu doanh nghiệp ngừng hoạt động, doanh nghiệp bỏ trốn, gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, tổ chức, cá nhân và người lao động; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch và bọn phản động giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội góp phần phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh.

V. Công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

- Triển khai thực hiện chiến lượng bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, trong đó tập trung các giải pháp thực hiện để đạt được các chỉ tiêu đề ra trong chiến lược.

- Triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

- Triển khai thực hiện Đề án quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, tiếp tục nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải và các nội dung mới theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo chỉ đạo của Tỉnh ủy và chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh sau khi Đề án được ban hành.

- Triển khai các hoạt động hưởng ứng các tuần lễ bảo vệ môi trường và các ngày lễ kỷ niệm ngành tài nguyên môi trường; tổ chức hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường năm 2024 theo Chương trình liên tịch được ký kết; triển khai thực hiện các dự án thành phần thuộc Dự án tổng thể về truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường; tổ chức tập huấn, triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn đa dạng và an toàn sinh học.

VII. Giải pháp thực hiện

1. Bám sát các nhiệm vụ của ngành được Tỉnh ủy, UBND tỉnh giao và các chương trình, kế hoạch của Bộ Công Thương đã ban hành năm 2023, 2024, giai đoạn đến năm 2025, định hướng những năm tiếp theo để tập trung chỉ đạo triển khai.

2. Tiếp tục rà soát các cơ chế, chính sách hỗ trợ của tỉnh đã được ban hành để tạo điều kiện đẩy nhanh thủ tục, hồ sơ cho các đối tượng đã đăng ký, sớm được hỗ trợ theo quy định, đồng thời rà soát đăng ký bổ sung đối tượng hỗ trợ hàng năm.

3. Hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hướng dẫn doanh nghiệp sản xuất sạch và xanh theo các quy định và tiêu chuẩn xuất khẩu vào các khối thị trường, nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhỏ và vừa của Đồng Nai có chính sách chuẩn bị trước liên quan đến các quy trình sản xuất sạch và môi trường xanh để đảm bảo lợi thế cạnh tranh và thích ứng với Quy định thị trường trong thời gian tới.

4. Tập trung nắm bắt và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp. Đẩy mạnh việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

5. Tập trung hỗ trợ cơ sở CNNT ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến để đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa chi phí để tăng tỷ suất lợi nhuận trước tình trạng doanh thu bị sụt giảm. Thực hiện tốt các giải pháp tiết kiệm năng lượng và đảm bảo cung cấp điện ổn định trên địa bàn tỉnh, tránh tình trạng cắt điện ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

6. Tiếp tục thực hiện tốt công tác cải cách hành chính; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong các hoạt động ngành; thường xuyên rà soát, kịp thời tham mưu sửa đổi bộ thủ tục hành chính của tỉnh phù hợp với các quy định hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân trong sản xuất kinh doanh, làm thủ tục cấp phép.

7. Đẩy mạnh và mở rộng thị trường xuất khẩu, tập trung triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở CNNT trong quảng bá sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu, tìm kiếm đối tác, liên doanh, liên kết, hợp tác, nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm; Phối hợp với Cục XTTM, tham tán thương mại các nước tìm hiểu nhu cầu thị trường nước ngoài để cung cấp cho doanh nghiệp thông qua các buổi hội nghị, hội thảo và đăng lên Website của Sở Công Thương và Trung tâm XTTM; Hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia chương trình XTTM của tỉnh, của Quốc gia do Bộ Công thương và Cục XTTM tổ  chức tại các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài.

8. Tuyên truyền về các Hiệp định Thương mại tự do đa phương và song phương mà Việt Nam đã tham gia và ký kết nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp, tận dụng tối đa các lợi thế mà các Hiệp định thương mại mang lại.

9. Kích cầu tiêu dùng thị trường nội địa, tập trung triển khai hiệu quả Chương trình bình ổn giá, bình ổn thị trường một số mặt hàng thiết yếu; Hỗ trợ và giới thiệu cho doanh nghiệp trưng bày sản phẩm tại phòng trưng bày giới thiệu sản phẩm CNNT tiêu biểu, sản phẩm OCOP tỉnh; tham gia gian hàng trên Sàn TMĐT tỉnh; tham gia các hội nghị kết nối giao thương, hội chợ triển lãm trong và ngoài tỉnh; Tập trung phát triển ổn định thị trường trong nước, thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa, đẩy mạnh phong trào "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện giúp các tổ chức, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tăng cường phát triển thị trường nội địa.

10. Tăng cường mối quan hệ, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan tham tán
thương mại của Việt Nam tại nước ngoài, Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài,
chính quyền địa phương nước đối tác để giới thiệu về môi trường đầu tư của tỉnh
Đồng Nai, thông tin về các dự án mời gọi, thu hút đầu tư, triển khai các chương
trình hợp tác kinh tế, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh
nghiệp nước ngoài đến thực hiện dự án đầu tư trong các KCN trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.

11. Tăng cường kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư trong nước vào các KCN
trên địa bàn tỉnh, tạo môi trường thuận lợi phát triển doanh nghiệp trong nước; ban hành bộ tiêu chí thu hút dự án đầu tư vào các KCN.

12. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường; Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, cụ thể hóa những nội dung, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong năm 2024 theo Luật Bảo vệ môi trường 2020; tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo Kế hoạch số 183/KH-UBND ngày 31/7/2023 của UBND tỉnh thực hiện chiến lượng bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

13. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên báo, đài, thông tin đại chúng trên toàn tỉnh; trên Website của Cục Thuế; trang thông tin điện tử ngành thuế về công tác tuyên truyền đăng ký kê khai nộp hồ sơ thuế qua mạng (hoàn thuế điện tử) một cách triệt để và các nội dung chính sách thuế có sửa đổi, bổ sung, đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền.

14. Tiếp tục nắm bắt những khó khăn của doanh nghiệp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh để kịp thời phản ảnh đến các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm tháo gỡ và hỗ trợ cho doanh nghiệp.

15. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, công khai các thủ tục giải quyết công việc theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 phù hợp với thực tế và đúng quy định pháp luật.

NT




Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê truy cập

Hôm nay

2,525

Tổng lượt truy cập

4,262,676
Hình 1
App
Chuyển đổi số
Ngày quốc gia
Chủ động
Video sp
Bộ công thương
FTA
mail
đảng bộ
cải cách
Tổng đài
Trung tâm xúc tiến
Công đoàn
Hỏi đáp
Đồng nai
Hiệp định
Fake new
Bộ pháp
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây